Có những lúc nhìn một linh mục đứng trước bàn thờ, tôi tự hỏi: Người linh mục được Chúa gọi để làm gì? Để giảng? Để quản trị một giáo xứ? Để xây dựng nhà thờ? Để tổ chức những công việc lớn? Hay để được nhiều người biết đến? Những điều ấy đều có thể hiện diện trong đời sống linh mục, nhưng có lẽ chưa phải là điều cốt lõi nhất. Sâu xa hơn, người linh mục được mời gọi thuộc về Đức Kitô, phục vụ Dân Chúa và qua chính cuộc đời mình giúp người khác nhận ra Đức Kitô, vị Mục Tử nhân lành. Tôi vẫn thích nghĩ về người linh mục bằng một hình ảnh rất đẹp: linh mục là hình bóng Đức Kitô giữa cuộc đời.
Không phải vì linh mục là người hoàn hảo. Phía sau phẩm phục, bàn thờ, giảng đài và những trách nhiệm mục vụ vẫn là một con người, biết vui, buồn, cô đơn, tổn thương, có thành công và cũng có thất bại. Vì vẫn là con người, linh mục cũng phải đối diện với tự ái, nóng giận, hơn thua và những cám dỗ rất đời thường về danh tiếng, sự nhìn nhận hay vị trí. Chức linh mục không làm một người lập tức trở nên hoàn hảo. Người linh mục vẫn cần mỗi ngày để Đức Kitô biến đổi mình. Điều đáng quý không phải là chưa từng yếu đuối hay sai lầm, mà sau những lần vấp ngã vẫn biết trở về, sửa mình, xin lỗi khi cần, biết tha thứ và tiếp tục học cách yêu thương đoàn chiên được trao phó. Đức Giêsu đã nói: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ” (Mc 10,45). Có lẽ đó cũng là một trong những chìa khóa để hiểu thiên chức linh mục. Quyền bính, kiến thức, khả năng hay trách nhiệm được trao chỉ thật sự có ý nghĩa khi trở thành phương tiện phục vụ Thiên Chúa và Dân Người.
Tôi đã từng có cơ hội chăm sóc một số linh mục khi các ngài về hưu. Chính trong những ngày tháng rất bình thường ấy, tôi học được nhiều điều. Có những vị đã dành gần cả cuộc đời để phục vụ, đi qua nhiều giáo họ, giáo xứ, làm nhiều việc và gặp biết bao con người. Nhưng khi tuổi đã cao, nhắc đến những gì mình từng làm, tôi ít nghe các ngài nói về thành tích. Có một câu tôi vẫn nhớ: “Mọi sự phải có ơn Chúa, con mới làm được.” Một câu rất đơn sơ, nhưng càng nghĩ tôi càng thấy đúng. Tuổi trẻ rồi qua. Trách nhiệm rồi cũng đến ngày trao lại. Những công trình mình từng dốc sức xây dựng sẽ có người khác tiếp tục. Điều hôm nay tưởng rất quan trọng, mai này có khi cũng chỉ còn là chuyện đã qua. Nhìn lại một chặng đường dài, có lẽ người ta càng dễ nhận ra rằng nếu không có ơn Chúa, sức riêng của mình chẳng thể làm được bao nhiêu.
Thánh Phaolô viết: “Tôi trồng, anh Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên” (1 Cr 3,6). Người này gieo, người khác tưới. Có người bắt đầu rồi một ngày người khác tiếp tục. Cánh đồng vẫn là của Thiên Chúa. Đoàn chiên vẫn thuộc về Đức Kitô. Khi nhận ra điều đó, người ta cũng dễ thanh thoát hơn trước công trạng và nhu cầu được ghi nhận. Tôi nghĩ đó cũng là một vẻ đẹp của đời sống linh mục: sống đơn sơ và thanh thoát, giữ một trái tim khiết tịnh để yêu thương mà không chiếm hữu, và biết vâng phục trong tinh thần trách nhiệm. Vâng phục không có nghĩa là thôi suy nghĩ hay không được góp ý. Nhưng góp ý thế nào để vừa nói được điều mình xác tín, vừa tôn trọng thẩm quyền và gìn giữ sự hiệp thông, đó lại là một đòi hỏi không dễ dàng.
Tôi biết những điều chưa đẹp không thể đại diện cho biết bao linh mục vẫn đang âm thầm phục vụ. Có những hy sinh chẳng mấy ai biết, những việc được làm rồi lặng lẽ trôi qua, không xuất hiện trên mạng xã hội. Có những đời linh mục cứ thế đi qua năm tháng trong sự trung thành. Tôi trân trọng những điều ấy. Có lẽ cũng chính vì trân trọng thiên chức linh mục mà tôi thấy buồn khi đôi lúc chứng kiến những bất đồng giữa những người cùng là anh em trong chức linh mục dần trở thành những lời làm tổn thương nhau trước công chúng. Tôi không muốn lấy những điều ấy để xét đoán một linh mục, càng không muốn quy kết cho đời sống linh mục nói chung. Nhưng là một người giáo dân, tôi vẫn không khỏi suy nghĩ khi thấy những người cùng đứng trước một bàn thờ, cùng cử hành một Thánh Thể, nhưng có lúc lại trở nên xa cách vì những bất đồng chưa thể giải quyết.
Bất đồng là chuyện có thể xảy ra, trong Giáo Hội cũng vậy. Linh mục có quyền và trách nhiệm góp ý, đặt câu hỏi, thậm chí lên tiếng khi nhận thấy có điều chưa phù hợp. Vâng phục không đồng nghĩa với im lặng trước mọi chuyện. Nhưng không chỉ điều mình nói là quan trọng; cách mình nói và cách mình đối xử với người anh em cũng quan trọng. Có những vấn đề cần được nói công khai vì sự thật và công ích. Nhưng cũng có những chuyện, nếu hoàn cảnh cho phép, có lẽ nên bắt đầu bằng việc ngồi lại với nhau. Khi bất đồng đi quá xa, người giáo dân cũng dễ bị cuốn vào. Người bênh cha này, người đứng về cha kia; rồi những bình luận và chia sẻ trên mạng lại làm câu chuyện lớn thêm. Lúc ấy, chính người giáo dân chúng tôi cũng cần tự hỏi: điều mình đang làm có giúp mọi chuyện tốt hơn không, hay vô tình làm khoảng cách giữa những người trong cuộc xa thêm?
Người giáo dân không chỉ nghe những gì linh mục giảng. Họ còn nhìn cách người linh mục sống và đối xử với người khác. Khi nghe nói về yêu thương, tha thứ và khiêm nhường, họ cũng mong phần nào nhận ra những điều ấy nơi người mục tử, nhất là trong những lúc khó khăn và bất đồng. Không ai đòi một linh mục phải hoàn hảo. Nhưng có lẽ điều khiến người ta được nâng đỡ nhất chính là khi những gì nghe từ bàn thờ cũng được nhận ra phần nào trong cuộc sống của người đứng trước bàn thờ ấy. Vì thế, trước một bất đồng, có lẽ câu hỏi không chỉ là ai đúng, ai sai. Còn một câu khác khó hơn: sau tất cả những điều mình nói và làm, sự thật có sáng hơn không, người anh em có còn là người anh em không và cộng đoàn có được bình an hơn không? Có những lúc không thể im lặng. Nhưng dù phải lên tiếng, nếu còn đủ khiêm nhường để nghe nhau và còn nhìn người trước mặt như một người anh em, có lẽ vẫn còn đường để đối thoại.
Ơn gọi linh mục lớn hơn những cuộc hơn thua. Thiên chức ấy cũng lớn hơn công trạng, danh dự, vị trí hay số người đứng về phía mình. Bởi ngày một người đáp lại tiếng Chúa để bước vào đời sống linh mục, điều họ tìm kiếm đâu phải là một chỗ đứng giữa người đời, nhưng là một cuộc đời thuộc về Đức Kitô và được trao cho Dân Người. Có lẽ vì vậy, giữa những bận rộn mục vụ, giữa thành công và thất bại, lời khen và tiếng chê, người linh mục cũng cần những khoảng lặng để trở về với câu hỏi ban đầu: Chúa đã gọi tôi để làm gì? Tôi đang phục vụ đoàn chiên Chúa trao hay đôi khi muốn người khác đi theo ý mình? Khi bảo vệ điều tôi cho là đúng, tôi có còn giữ được sự khiêm nhường và tình huynh đệ không? Những việc tôi làm có giúp người khác nhận ra Đức Kitô rõ hơn, hay đôi khi người ta lại nhìn thấy tôi nhiều hơn?
Những câu hỏi ấy không dễ trả lời. Nhưng đời sống thiêng liêng đâu chỉ được nuôi bằng những điều dễ chịu. Có lúc con người cần đủ can đảm để nhìn lại chính mình, không phải để phủ nhận những gì mình đã làm, nhưng để nhận ra điều gì vẫn cần được Chúa thanh luyện. Thánh Gioan Tẩy Giả nói: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại” (Ga 3,30). Tôi rất thích câu ấy khi nghĩ về đời sống linh mục. Có lẽ càng để Đức Kitô lớn lên, người ta càng bớt phải giữ công trạng cho mình, bớt nhu cầu chứng minh mình hơn người khác. Người anh em cũng không còn là người mình phải chiến thắng. Quyền bính khi ấy trở về đúng ý nghĩa của nó: một trách nhiệm để phục vụ.
Một linh mục có thể xây được một ngôi nhà thờ đẹp, tổ chức nhiều công việc lớn, giảng những bài được nhiều người yêu thích và được rất nhiều người quý mến. Những điều ấy đáng trân trọng. Nhưng có lẽ vẫn còn một câu hỏi sâu hơn: qua tất cả những điều ấy, người ta có gặp được Đức Kitô không? Bởi rồi một ngày, tuổi trẻ sẽ qua. Trách nhiệm sẽ được trao lại. Giáo xứ mình từng coi sóc sẽ có người khác tiếp tục. Những công trình mang dấu ấn của mình rồi cũng thuộc về thế hệ sau. Điều một linh mục để lại trong lòng Dân Chúa có khi không phải là những gì lớn lao nhất ngài từng làm. Đó có thể chỉ là cách ngài cúi xuống trước một người nghèo, kiên nhẫn với một người yếu đuối, tha thứ cho người làm mình tổn thương, biết nhận lỗi khi mình sai, hay vẫn chọn yêu thương khi hoàn toàn có thể đáp trả. Có lẽ chính trong những điều rất nhỏ ấy, hình bóng Đức Kitô lại hiện ra rõ nhất.
Sau tất cả, người linh mục vẫn cần trở về với câu hỏi rất đơn sơ của ngày đầu đáp lại tiếng gọi: Chúa đã gọi tôi để làm gì? Không phải để người khác biết tôi là ai, nhưng để qua tôi, họ nhận ra Đức Kitô là ai. Bởi sau cùng, người linh mục không phải là trung tâm; trung tâm vẫn là Đức Kitô. Và bài giảng thuyết phục nhất của một linh mục đôi khi không nằm trên giảng đài, trong những công trình đã thực hiện hay trong những dòng chữ trên mạng xã hội. Bài giảng ấy chính là cuộc đời. Một cuộc đời vẫn mang sự mỏng giòn của con người, vẫn có những lần vấp ngã và cần bắt đầu lại. Nhưng nếu mỗi ngày người linh mục biết để mình nhỏ đi một chút và để Đức Kitô lớn lên, thì qua cuộc đời ấy, người khác có thể nhận ra hình bóng của Đấng đã đến “không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ”
Vic. Ter phamhoang
Để lại một phản hồi