Giới thiệu: Các dụ ngôn Chúa Giêsu kể là để giúp người nghe dễ hiểu và đón nhận những chân lý cao siêu về Nước Trời. Nhưng tại sao Chúa lại nói với các môn đệ: Người dùng dụ ngôn để họ nhìn mà không thấy, nghe mà không hiểu, kẻo họ trở lại và được cứu độ. Lời của Chúa Giêsu ở đây thật là khó hiểu. Giải thích thế nào? ĐGH Bênêđíctô XVI đưa ra cho chúng ta một giải thích rất sâu xa và rất ý nghĩa trong bài sau đây.
CÁC DỤ NGÔN:
MỘT CÂU HỎI LỚN
Câu hỏi
“Phần anh em, mầu nhiệm Nước Thiên Chúa đã được ban cho anh em, còn những người kia là những kẻ ở ngoài, thì cái gì cũng phải dung dụ ngôn, để họ có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy, có lắng tai nghe cũng không hiểu, kẻo họ trở lại và được ơn tha thứ.” (Mc 4, 11-12).
Lời Chúa nói trên có ý nghĩa gì? Có phải các dụ ngôn của Chúa làm cho sứ điệp của Người trở nên khó hiểu để chỉ dành cho một nhóm nhỏ được tuyển chọn mà chính Người giải nghĩa cho họ không? Các dụ ngôn có đó không phải để mở ra mà để đóng lại? Có phải Thiên Chúa chỉ muốn về phe với những người ưu tú, chứ không phải là toàn thể, nghĩa là tất cả chúng ta?
Thất bại của Chúa Giêsu, và của các ngôn sứ
Để hiểu những lời bí ẩn này của Chúa Giêsu, chúng ta phải biết đoạn trích dẫn từ ngôn sứ Isaia và hiểu theo cách của Chúa. Khi nói những lời trên, Chúa Giêsu tự nhận mình thuộc hàng ngũ các ngôn sứ, số phận của Người là số phận của các ngôn sứ. Nếu lấy nguyên vẹn, thì lời ngôn sứ Isaia còn nặng nề và đáng kinh sợ hơn nhiều. Ngôn sứ Isaia đã nói: “Hãy làm cho lòng dân này ra đần độn, cho tai nó điếc, cho mắt nó mù; kẻo mắt nó thấy, tai nó nghe và lòng nó hiểu, mà nó trở lại và được chữa lành.” (Isaia 6,10),
Ngôn sứ đã thất bại. Sứ điệp của ông đối lập rất mạnh mẽ với tư tưởng đang thống trị thời ông, với những thói quen đã bám rễ sâu trong đời sống. Chỉ có thất bại của ông mới làm cho lời ông có sức đánh động lòng người. Sự thất bại này của ngôn sứ là một câu hỏi không lời giải đáp của toàn bộ lịch sử Israel và, một cách nào đó, nó luôn tái diễn trong lịch sử nhân loại. Trước hết, nó tái diễn trong số phận của Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết trên thập giá. Nhưng hiển nhiên, cũng từ thập giá ấy xuất phát sự phong phú lớn lao của Người.
Hạt giống mục nát mới sinh hoa trái
Và thật bất ngờ, ở đây, chúng ta lại thấy sự liên quan tới dụ ngôn người gieo hạt giống. Các Tin mừng nhất lãm đặt câu nói trên của Chúa Giêsu vào trong văn cảnh của dụ ngôn đó. Thật đáng kinh ngạc khi thấy tầm quan trọng của hình ảnh hạt giống trong toàn bộ sứ điệp của Chúa Giêsu. “Nước Thiên Chúa” hiện diện như hạt giống. Nhìn từ bên ngoài, hạt giống là một cái gì đó ít giá trị và người ta có thể không biết đến nó. Hạt mù tạt là hình ảnh Nước Thiên Chúa. Đó là loại hạt nhỏ bé nhất trong các loại hạt, tuy nhiên, nó lại mang trong mình cả một cây lớn. Hạt giống là sự hiện diện của thực tại tương lai. Trong hạt giống, cái sẽ đến đã hiện diện cách ẩn dấu. Nó là hiện tại của lời hứa.
Vào Chúa nhật lễ Lá, Chúa đã tóm tắt các dụ ngôn về hạt giống khi cho biết rõ ràng ý nghĩa của chúng: “Nếu hạt lúa mì gieo xuống đất mà không chết dì, thì nó trơ trọi một mình; nhưng nếu nó chết, nó sẽ sinh nhiều bông hạt.” (Ga 12, 24). Chính Chúa Giêsu là hạt giống đó, Sự “thất bại” của Người trên thập giá hiển nhiên là con đường dẫn từ một nhóm ít ỏi đến đám đông, đến tất cả mọi người: “Và tôi, khi tôi bị đưa lên khỏi mặt đất, tôi sẽ lôi kéo mọi người đến với tôi.” (Ga 12, 32).
Thập giá, chìa khoá giải thích
Thất bại của các ngôn sứ, thất bại của chính Chúa Giêsu, bây giờ xuất hiện dưới một ánh sáng mới. Rõ ràng những thất bại ấy là con đường dành cho mọi người “sám hối và được Thiên Chúa thứ tha.” Chính những thất bại này sẽ làm cho mắt và tai mọi người mở ra. Thập giá luôn là chìa khoá giải mã các dụ ngôn. Trong diễn từ giã biệt các môn đệ, Chúa đã nói về vấn đề này: “Thầy đã dùng dụ ngôn (diễn từ ẩn dấu) để nói với các con tất cả những điều đó. Giờ sẽ đến, lúc đó không còn dùng dụ ngôn nữa, mà Thầy sẽ loan báo công khai tất cả những gì liên quan tới Chúa Cha.” (Ga 16,25). Như vậy, các dụ ngôn nói về thập giá một cách bí ẩn: đúng hơn, chúng là thành phần nội tại của chính thập giá. Bởi vì chúng thoáng cho thấy mầu nhiệm về thần tính của Chúa Giêsu, nên chúng đưa tới sự mâu thuẫn. Nhưng hiển nhiên, cũng chính ở đó, chúng toả sáng tột độ, đến nỗi chúng đánh dấu các giai đoạn trên con đường đưa đến thập giá, như trong dụ ngôn những người thợ làm vườn nho sát nhân (Mc 12, 1-12) .Trong các dụ ngôn, Chúa Giêsu không chỉ là người dì gieo hạt giống lởi Chúa, mà còn là chính hạt giống được gieo xuống đất, chết dì, nhờ đó, sản sinh nhiều bông hạt.
Đòi hỏi của dụ ngôn
Trong hoàn cảnh này, lời lẽ Chúa Giêsu dùng để giải thích ý nghĩa các dụ ngôn nhuốm vẻ âu lo. Những lời giải thích đó giúp chúng ta hiểu ý nghĩa sâu xa nhất của chúng với điều kiện là chúng ta đọc Kinh thánh và đặc biết là các Tin mừng, như một duy nhất và như một toàn thể – điều đó như một đòi hỏi bởi bản chất của chính lời Thiên Chúa được viết ra. Trong mọi giai đoạn của lịch sử, Kinh thánh là biểu lộ của một sứ điệp nhất quán nội tại.
Ngoài giải thích thần học rút ra từ trọng tâm của Kinh thánh như trên, cũng là điều hữu ích khi xem xét phương diện riêng biệt về con người của các dụ ngôn. Thực sự. dụ ngôn là gì? Và người kế dụ ngôn tìm kiếm điều gì?
Hiển nhiên, tất cả các nhà giáo dục, tất cả các bậc thầy giảng dạy đều ao ước truyền đạt cho các thính giả những kiến thức mới và để làm được điều đó, họ thường dựa vào ví dụ, vào dụ ngôn. Chẳng hạn, người giảng dạy nói đến một thực tại mà cho tới thời điểm đó, không nằm trong tầm nhìn của các thính giả. Như vậy, người dạy chỉ cho họ thấy làm thế nào, trong một thực tại thuộc phạm vi kinh nghiệm của họ, lại xuất hiện một điều gì đó mà cho tới lúc đó, họ không nhận ra. Nhờ dụ ngôn, người đó làm cho một thực tại rất xa lạ với tư tưởng của người nghe trở nên gần gũi, hiểu được, đến nỗi nó giống như một cây cầu giúp họ đạt tới thực tại cho tới lúc đó còn xa lạ với họ.
Ở đây, chúng ta có một chuyển động đôi; một bên, dụ ngôn giúp người nghe và người tham gia suy tư hiểu được thực tại trước đó rất xa lạ với họ; bên kia, chinh người nghe cũng bắt đầu chuyển động. Sự năng động bên trong của dụ ngôn làm cho chính hình ảnh mà người nghe đã chọn, siêu việt hoá bên trong mình, mời gọi chính người nghe hoàn toàn buông mình theo sự năng động đó, vượt qua tầm nhìn vốn có của mình, học để biết và hiểu điều mà cho tới lúc đó hoàn toàn xa lạ.
Nhưng điều đó có nghĩa là dụ ngôn đòi hỏi sự tham dự tích cực của người nghe, chính người nghe phải hoà mình vào chuyển động của dụ ngôn và đi theo nó. Về điểm này, chúng ta sẽ chạm trán với một vấn đề vốn có ở mọi dụ ngôn. Rất có thể chúng ta không có khả năng khám phá ra sự năng động và để nó dẫn dắt. Nhất là đối với các dụ ngôn liên quan và tác động đến cách sống, đến não trạng rất riêng tư của chúng ta; khi ấy, rất có thể chúng ta sẽ từ chối chấp nhận chuyển động mà dụ ngôn đòi hỏi.
Đón nhận hoặc từ chối nơi người nghe
Điều đó nhắc chúng ta nhớ đến lời của Chúa khi Chúa nói, nhìn mà không thấy, nghe mà không hiểu. Chúa Giêsu không có ý truyền đạt cho chúng ta những kiến thức trừu tượng nào đó không liên quan gì đến nơi thâm sâu nhất của tâm hồn chúng ta. Ưu tiên hàng đầu của Người là dẫn chúng ta đến với mầu nhiệm của Thiên Chúa, nơi mà ánh sáng làm cho đôi mắt chúng ta không thể nhìn được và vì lẽ đó, chúng ta trốn chạy.
Để giúp chúng ta nhìn thấy được, Chúa tỏ cho chúng ta thấy vẻ trong suốt của ánh sáng thần linh toả ra trong thế giới này và trong những thực tại hàng ngày. Qua những thực tại của đời sống hàng ngày, Chúa muốn chỉ cho chúng ta thấy nền tảng thâm sâu của mọi sự, nhờ đó, chúng ta thấy hướng dì đích thực mà chúng ta phải theo để luôn ở trên con đường ngay chính. Người chỉ cho chúng ta thấy Thiên Chúa, không phải là một Thiên Chúa trừu tượng, mà là một Thiên Chúa hành động trong cuộc đời chúng ta và là Đấng ao ước nắm lấy chúng ta trong bàn tay Ngài.
Qua những kinh nghiệm của đời sống hàng ngày, Chúa chỉ cho chúng ta thấy mình là ai và phải làm gì. Người muốn truyền đạt cho chúng ta không phải một kiến thức mới, vì đó không phải là mục đích chính yếu của Chúa, mà là một kiến thức biến đổi đời sống chúng ta.
Đó là một kiến thức được ban như một ân huệ, kiến thức đó nói với chúng ta rằng: Thiên Chúa đang cùng dì với bạn. Nhưng đó cũng là một kiến thức đưa ra một đòi hỏi: hãy tin và hãy để đức tin hướng dẫn bạn. Vì thế, rất có thể chúng ta sẽ từ chối, bởi vì dụ ngôn không đem đến một sự rõ ràng nào mà chúng ta cần.
Từ chối vì chỉ tin những gì kiểm nghiệm được
Rất có thể có hàng ngàn hàng vạn những chống đối hoàn toàn hợp lý, không những thời thế hệ của Chúa Giêsu, nhưng còn qua mọi thế hệ, và ngày nay rất có thể còn hơn bao giờ hết. Vì sao? Thưa bởi vì chùng ta tự nhào nặn một quan niệm về thực tại mà quan niệm đó loại trừ Thiên Chúa, Thiên Chúa không thể xuất hiện trong thế giới thực nghiệm của con người. Chúng ta chỉ coi là có thực tất cả những gì có thể kiểm nghiệm được. Trong khi, Thiên Chúa là Đấng chúng ta không thể thử thách được và cũng không thể kiểm nghiệm được. Chúa đã khiển trách thế hệ dân Israel dì trong sa mạc 40 năm như sau: “Cha ông các người đã từng thách thức và thử thách Ta dù đã thấy những việc Ta làm.” (Tv 95 (94),9).
Không thể thấy được Thiên Chúa, đó là điều mà quan niệm hiện đại về thực nghiệm muốn nói với chúng ta. Huống hồ, càng không thể chấp nhận điều Ngài đòi hỏi chúng ta: tin vào Thiên Chúa và sống theo đức tin đó dường như là một đòi hỏi quá mức. Trong tình thế đó, thực sự, các dụ ngôn đưa người ta đến nhìn mà không thấy, nghe mà không hiều và “lòng dạ ra chai đá”.
Như vậy, cuối cùng, các dụ ngôn nói lên rằng trong thế giới này, Thiên Chúa thì ẩn dấu và biết được Thiên Chúa đòi hỏi con người phải hoàn toàn dấn thân. Đó là một hiểu biết gắn liền với cuộc sống, một hiểu biết không thể đạt tới nếu không có sự “hoán cải”. Bởi vì trong thế giới bị tổn thương bởi tội lỗi, định luật làm nên trọng tâm của đời sống chúng ta, chính là sự lệ thuộc vào cái “tôi” và cái “người ta”. Mối liên kết này phải bị bẻ gãy để có thể mở ra cho một tình yêu mới, tình yêu đó đem chúng ta đến một vũ trụ được điều khiển bởi những định luật khác, nơi chúng ta sống một cuộc đời mới. Theo nghĩa này, hiểu biết Thiên Chúa không thể có được nếu không có ân ban là tình yêu của Ngài; nhờ tình yêu đó, Thiên Chúa trở nên hữu hình, thấy được đối với chúng ta. Nhưng ân ban này còn phải được chúng ta đón nhận. Theo nghĩa này, các dụ ngôn mặc khải điều cốt yếu của sứ điệp của Chúa Giêsu. Theo nghĩa này, mầu nhiệm thập giá được khắc ghi trong bản chất sâu xa của các dụ ngôn.
Kết luận
Người nghe chỉ thấy và hiểu được dụ ngôn khi chấp nhận thập giá và đòi hỏi của dụ ngôn là tin vào Thiên Chúa, đồng thời dấn thân trọn vẹn theo niềm tin đó. Vì thế, người nghe rất có thể từ chối. Từ chối vì chỉ tin vào thực nghiệm khi sống trong một thế giới có thể nói là tôn thờ thực nghiệm, tôn thờ khoa học, ký thuật.
Người nghe còn từ chối vì không muốn chấp nhận đòi hỏi phải tin và dấn thân mà các dụ ngôn đưa ra vì không muốn từ bỏ lối sống, não trạng đã ăn sâu trong đời sống, nghĩa là không muốn hoán cài. Khi từ chối như thế, họ trở thành những người nhìn mà không thấy, nghe mà không hiểu.
Bài dịch của Linh mục Mỹ Sơn, Long Xuyên
Để lại một phản hồi