Bài viết này suy tư về ý nghĩa thần học và linh đạo của các lời khấn trong đời sống thánh hiến, đặt nền trên niềm hy vọng Kitô giáo. Dù các lời khấn không phải là một bí tích, người khấn dòng vẫn có thể nghiêm túc dâng hiến chính bản thân mình trong tình yêu và niềm vui, như người đã kết hôn sống trọn vẹn cam kết hôn nhân của mình.Bí tích Hôn phối là một trong những cách mà con người dâng hiến hay tận hiến chính mình cho người khác, qua đó, họ trao tặng cho nhau chính bản thân mình. Bài viết này tập trung khai triển một cách dâng hiến khác là các lời khấn, qua đó, những con người nam nữ được gia nhập vào những hình thức khác nhau của các dòng tu hay hội dòng và các tu hội đạo đức sống đời thánh hiến. Những lời khấn và việc gia nhập ấy không phải là một bí tích, nhưng người khấn dòng vẫn có thể nghiêm túc dâng hiến chính bản thân mình trong tình yêu và niềm vui như người đã kết hôn sống trọn vẹn cam kết hôn nhân của mình.
Đối với các tu sĩ như tôi, các lời khấn này, tự bản chất, là vấn đề của niềm hy vọng. Niềm hy vọng ấy không phải là một thái độ mơ hồ hay vô định kiểu “mặc kệ sao cũng được,” cũng không phải là sự thờ ơ trước những thực tại của đời sống; trái lại, đó là một niềm tín thác mang tính cá vị, năng động và trọn vẹn vào tình yêu của Chúa Cha dành cho chúng ta, khi chúng ta cố gắng noi gương Chúa Con, theo sự hướng dẫn và nâng đỡ của Chúa Thánh Thần. Đó là sự phó thác hoàn toàn bản thân chúng ta cho Ba Ngôi Thiên Chúa trong lòng tri ân và trao hiến yêu thương, noi theo “sự tự hủy” (kenosis) của Đức Kitô mà Thánh Phaolô mô tả trong Pl 2,5-11.
Mỗi gia đình tu trì có một cách hiểu và thực hành khác nhau đối với các lời khấn khó nghèo, vâng phục và khiết tịnh; hơn nữa, những cách hiểu ấy có thể thay đổi theo thời gian. Đây cũng là một trong những lý do khiến Công đồng Vaticanô II kêu gọi các dòng tu trở về với nguồn cảm hứng và linh đạo nguyên thủy của các cộng đoàn tu trì. Tuy nhiên, tôi xin đề nghị một cách diễn giải về các lời khấn có thể áp dụng cho các lời khấn trong mọi gia đình tu trì, hoặc ít ra cũng có thể làm phong phú thêm sự hiểu biết chung của tất cả chúng ta về các lời khấn ấy.
Theo tôi, lời khấn căn bản chính là khó nghèo, không chỉ liên quan đến của cải vật chất, nhưng liên quan đến mọi điều xảy đến với chúng ta, kể cả những ân huệ của Thiên Chúa và chính bản thân chúng ta. Đối với chúng ta, sự khó nghèo trọn hảo là không ngừng nắm giữ mọi sự chúng ta là và chúng ta có trong đôi tay rộng mở trước mặt Thiên Chúa, để Người tự do sử dụng, lấy đi, hoặc biến đổi theo thánh ý Người (“Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện…”), đồng thời chúng ta cũng ý thức rằng Người hoàn toàn tự do để ban thêm cho chúng ta nữa. Sự rộng mở ấy nơi chúng ta chính là đỉnh cao của niềm hy vọng tuyệt đối đặt nơi một mình Thiên Chúa, của lòng quảng đại, và của tình yêu biết tri ân và tôn kính. Xin cho phép tôi dẫn ra gương Thánh Gioan Tẩy Giả: ngài đã quy tụ người khác đến với mình chính nhờ sự khó nghèo triệt để của ngài. Mọi người đều nhận ra rằng tất cả những gì ngài là và tất cả những gì ngài có đều đến từ Thiên Chúa; và chính điều đó là điều người ta tìm kiếm nơi ngài (x. Mt 21,25; Lc 7,25; 20,4).
Tuy nhiên, tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh điều này: niềm hy vọng như thế nơi Thiên Chúa không có nghĩa là chúng ta chỉ cậy dựa vào Người đối với những ân huệ tốt lành và dễ đón nhận, nhưng còn đối với cả những ân huệ khó đón nhận hơn. Chúng ta phải tìm cách đón nhận cả những thực tại như bệnh tật, sự hao mòn, mất mát, bị hiểu lầm, cũng như cảm giác bị quên lãng và không được yêu thương, nếu đó là những gì Thiên Chúa gửi đến cho chúng ta trong tình yêu khôn ngoan và quyền năng của Người một cách chủ động và vui tươi. Và chúng ta phải làm như thế chính vì chúng ta xác tín cách sâu xa và không chút nghi ngờ rằng Cha chúng ta sẽ không bao giờ ban cho chúng ta con bọ cạp khi chúng ta xin bánh, hay hòn đá khi chúng ta xin trứng (x. Lc 11,11–12). Nếu đó là điều chúng ta nhận được, thì đó chính là điều Thiên Chúa biết là tốt nhất cho chúng ta. Thế thôi. Trong niềm hy vọng, chúng ta tín thác nơi Người cách vui tươi, trong cầu nguyện và với lòng tri ân: tất cả những gì Thiên Chúa ban cho chúng ta đều nhằm mưu ích cho chúng ta; mọi sự đều là quà tặng yêu thương, dù chúng ta có xin hay không. Vì thế, sống khó nghèo như vậy chính là vấn đề của niềm hy vọng.
Vâng phục, lời khấn thứ hai là con đường qua đó chúng ta thể hiện thái độ hy vọng và khó nghèo này trong tương quan với ý chí và quyền tự quyết của mình, khi hoàn toàn mở lòng trước lời mời gọi và sự hướng dẫn của Thiên Chúa. Phản ứng của Đức Maria trước sứ thần Gabriel chính là sự vâng phục đơn sơ và đầy tín thác của một “nữ tỳ,” như Mẹ đã thưa trong biến cố Truyền tin; và trong sự mở lòng ấy, Thiên Chúa đã có thể thực hiện những điều cao cả nơi Mẹ (Lc 1,38.49).
Tuy nhiên, nếu chúng ta muốn trao cho sự vâng phục của mình một chiều sâu đích thực, thì chúng ta phải bước vào tinh thần phân định. Sự vâng phục hoàn toàn “mù quáng” là hành động không qua phân định, và vì thế thường bỏ lỡ ý hướng đích thực của điều Thiên Chúa đang mời gọi chúng ta thực hiện qua trung gian của người khác. Thiên Chúa không đòi hỏi chúng ta trở thành những cỗ máy, chỉ biết vận hành theo chương trình đã được lập sẵn; đó không phải là sự vâng phục hay phục vụ đích thực. Sự phân định không chỉ dừng lại ở việc nhìn vào những lời được yêu cầu phải làm rồi thôi; nhưng còn xét đến điều mà cộng đoàn tu trì hay vị bề trên đang nhắm tới, những trở ngại hay khó khăn có thể phát sinh từ hoàn cảnh hoặc từ chính bản thân chúng ta, cũng như mọi yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến việc thực thi, và điều đó dẫn chúng ta đến việc trình bày với các vị bề trên kết quả của việc suy tư cầu nguyện và phân định của mình, để các ngài có thể điều chỉnh những chỉ dẫn đã đưa ra, nếu thấy thích hợp. Điều chúng ta thao thức duy nhất là thực hiện trọn vẹn và sâu xa nhất những ước muốn của những người hướng dẫn mình, để có thể dấn thân hoàn toàn vào nhiệm vụ được trao, không do dự, không dè dặt, cũng không hiểu sai ý. Tất cả những gì chúng ta mong muốn là phụng sự Thiên Chúa với trọn cả con tim, khối óc và năng lực của mình.
Chúng ta vẫn có thể thực hiện đúng điều được yêu cầu phải làm; tuy nhiên, khi hành động ấy được thực hiện sau quá trình phân định, thì sự vâng phục của chúng ta trở thành một món quà lớn lao hơn nhiều. Chúng ta cũng cần tìm kiếm lòng quảng đại, sự can đảm và khiêm nhường trong việc sống vâng phục. Tất cả những điều này là một cách thế để chúng ta tự lột bỏ cái tôi của mình trong tinh thần khó nghèo và niềm hy vọng.
Sau cùng, lời khấn khiết tịnh của chúng ta không chỉ đơn thuần là việc kiêng tránh mọi hình thức hoạt động tính dục, dù hợp pháp hay không. Trước hết, đó là việc mở lòng để yêu thương nhiều người, thay vì chỉ dành tình yêu cho một người duy nhất. Chúng ta đặt Thiên Chúa làm ưu tiên hàng đầu trong tình yêu của chúng ta, và nhờ đó, chúng ta tìm thấy tình yêu dành cho tất cả anh chị em mình nơi Người (Mt 19,29).
Tuy nhiên, tình yêu như thế mang tính hai chiều; bởi lẽ, khi chúng ta dần dần mở lòng để yêu thương mọi người như anh chị em, thì đồng thời chúng ta cũng mở lòng để nhận biết và cảm nghiệm rằng người khác yêu thương chúng ta. Đặc tính này của tình yêu, hoạt động đồng thời theo hai chiều, cũng thể hiện rõ trong tương quan của chúng ta với Thiên Chúa; bởi lẽ, mối tương quan ấy gắn liền mật thiết với mức độ chúng ta nỗ lực yêu thương tha nhân. Càng khiêm tốn, quảng đại, kiên nhẫn và dịu dàng vươn tới tha nhân bao nhiêu, thì chúng ta càng ý thức mình đang yêu mến Thiên Chúa bấy nhiêu, và càng nhận ra Người yêu thương chúng ta nhiều biết bao, theo muôn vàn cách thức khác nhau. Nếu chúng ta tỏ lòng xót thương, chúng ta sẽ cảm nhận sâu xa hơn lòng xót thương của Thiên Chúa dành cho mình và sẽ yêu mến Người hơn nữa; nếu chúng ta học biết sự kiên nhẫn và dịu dàng trong việc chăm sóc những người Thiên Chúa đặt để trong đời sống chúng ta, hoặc những người mà Người mời gọi chúng ta tìm đến, thì chúng ta sẽ nhận ra cách Người hành động nơi chúng ta và nhờ đó có thể noi theo cung cách chăm sóc đầy dịu dàng và kiên nhẫn của Người.
Xét cho cùng, có thể nói rằng, trên thế gian chỉ có ba “chủ thể”: Thiên Chúa, chính bản thân tôi, và mọi người khác; và cách tôi đối xử với bất cứ một trong ba mối tương quan ấy đều tác động cách nghiêm trọng đến toàn bộ các mối tương quan còn lại. Cách mỗi người chúng ta sống các lời khấn khó nghèo, vâng phục và khiết tịnh nằm ở trung tâm đời sống của chúng ta trong Thiên Chúa, đồng thời là nền tảng cho tình yêu và việc phục vụ tha nhân; hơn nữa, đó còn là một lối sống mà chúng ta đón nhận với tình yêu như một linh đạo và một nếp sống cá vị phù hợp, hướng tới cuộc trở về của chúng ta với Thiên Chúa.
Tuy nhiên, giữa tất cả những điều ấy, chúng ta cần nhớ rằng mình chỉ là những con người có giới hạn, nên không thể thực hiện sự phó thác này một cách tuyệt đối; chúng ta sẽ dành trọn quãng đời còn lại trên trần gian để không ngừng nỗ lực sống xứng đáng với hồng ân ấy. Chắc chắn, chúng ta sẽ không tránh khỏi những lần thất bại, nhưng trong những lúc tốt đẹp nhất, chúng ta vẫn không ngừng tiến bước về phía mục tiêu đó. Vì thế, khi tôi cho rằng các lời khấn này là việc từ bỏ quyền kiểm soát cuộc đời mình, thậm chí chính bản thân mình một cách chính thức, thì tôi cũng nhấn mạnh rằng sự phó thác ấy được đặt nền trên tình yêu đối với Thiên Chúa và trên sự khó nghèo phát xuất từ niềm hy vọng của chúng ta đặt nơi Người; chính niềm hy vọng ấy sẽ biến đổi chúng ta theo cách mà chúng ta không thể tự mình thực hiện được. Chính Thiên Chúa là Đấng biến đổi chúng ta bằng sự hiện diện thánh thiện, sự quan tâm và tình yêu của Người.
Đó là vấn đề của niềm hy vọng, chứ không phải của công trạng hay sự xứng đáng nơi phía chúng ta, khi chúng ta tin tưởng chính Thiên Chúa thực hiện công cuộc hòa giải, chữa lành và phục hồi sự trong trắng mà chúng ta khát mong. Sống với niềm hy vọng như thế có nghĩa là chúng ta nhận biết và phụng sự Thiên Chúa ngay chính nơi sự yếu đuối, nghèo khó và sự phó thác hoàn toàn của mình cho tình yêu của Người; bởi chính ở đó mà Đức Kitô tìm gặp chúng ta (Mc 2,17; Lc 5,31).
Hoài Ân
Chuyển ngữ từ: churchlifejournal.nd.edu
Để lại một phản hồi