Trong cuộc gặp các thành viên Quốc hội Tây Ban Nha sáng ngày 08/6 tại Madrid, Đức Thánh cha Lêô XIV mời gọi các nhà lập pháp đặt phẩm giá bất khả xâm phạm của con người làm nền tảng cho mọi quyết định chính trị. Ngài đặc biệt đề cập đến việc bảo vệ sự sống, gia đình, giáo dục, người di dân, hòa bình, tự do tôn giáo, ấn tín tòa giải tội và trách nhiệm luân lý trước trí tuệ nhân tạo.Vào lúc 9 giờ 30 sáng nay, sau khi dâng Thánh lễ riêng, Đức Thánh cha Lêô XIV đã có cuộc gặp riêng với Thủ tướng Chính phủ Tây Ban Nha, ông Pedro Sánchez Pérez-Castejón.
Sau đó, Đức Thánh cha rời Tòa Sứ thần Tòa thánh vào lúc 10 giờ 15 và di chuyển bằng xe đến điện Palacio de las Cortes để gặp gỡ các Nghị sĩ Quốc hội Tây Ban Nha.
Khi đến nơi vào lúc 10 giờ 30, Đức Thánh cha Lêô XIV được chào đón tại cửa chính bởi bà Francina Armengol, Chủ tịch Hạ viện, và ông Pedro Rollán Ojeda, Chủ tịch Thượng viện, cùng sáu nhà lãnh đạo khác.
Sau quốc ca Tây Ban Nha và quốc ca Thành quốc Vatican được cử lên, Chủ tịch Hạ viện và Chủ tịch Thượng viện đã tháp tùng Đức Thánh Cha đến Salón de Pasos Perdidos.
Tiếp đó, sau nghi thức chụp hình chính thức, Đức Thánh Cha ký vào sổ lưu niệm và được tặng một bản sao sách Các giờ kinh.
Sau đó, tại Salón de Plenos, sau lời chào mừng của Chủ tịch Hạ viện, Đức Thánh cha Lêô XIV đã đọc diễn văn của ngài.
Kết thúc cuộc gặp gỡ, Đức Thánh Cha di chuyển bằng xe đến trụ sở Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha.
Sau đây là bài diễn văn Đức Thánh Cha gửi tới những người hiện diện trong cuộc gặp gỡ:
DIỄN VĂN CỦA ĐỨC THÁNH CHA
Thưa Ngài Thủ tướng,
Thưa Bà Chủ tịch Hạ viện,
Thưa Ngài Chủ tịch Thượng viện,
Thưa Ngài Chủ tịch Tòa án Hiến pháp,
Thưa Bà Chủ tịch Tòa án Tối cao và Hội đồng Tư pháp Tối cao,
Thưa Quý vị Dân biểu và Thượng nghị sĩ,
Thưa quý bà và quý ông,
Tôi xin cảm ơn Bà Chủ tịch vì những lời chào mừng nồng hậu, cũng như lời mời mà Tòa thánh đã nhận được nhân chuyến viếng thăm đất nước này. Tôi cũng vô cùng cảm kích trước sự tiếp đón dành cho tôi tại Cung điện Quốc hội lịch sử này, một trung tâm nổi bật của đời sống thể chế, pháp lý và dân chủ của Vương quốc Tây Ban Nha. Tôi đến trước quý vị với tư cách là Giám mục Rôma và Mục tử của Giáo hội Công giáo, ý thức rằng sứ mạng được trao phó cho Đấng Kế vị Thánh Tông đồ Phêrô, như nguyên lý và nền tảng của sự hiệp nhất giữa các Giám mục và các tín hữu (x. Lumen Gentium, 23), đặt Tòa thánh vào vị thế đặc biệt trong cuộc đối thoại với các dân tộc và các quốc gia.
Sự hiện diện của tôi giữa quý vị được hiểu như một cử chỉ gần gũi đối với Tây Ban Nha, trong khuôn khổ hợp tác hỗ tương, đồng thời là một thông điệp được trao gửi trong tinh thần phục vụ con người. Giáo hội “đồng hành cùng nhân loại”, chia sẻ những hy vọng và những vết thương của nhân loại, lắng nghe những câu hỏi của từng thời đại và để cho mình được chất vấn bởi “mọi điều liên quan đến đời sống của con người hôm nay”. Vì thế, khi Giáo hội đề cập đến bất kỳ điều gì liên quan đến đời sống chung, Giáo hội thực hiện điều đó trong sự tôn trọng sứ mạng đặc thù của các thể chế và trách nhiệm chính đáng của những người đã đón nhận sự ủy thác lập pháp. Giáo hội nhìn nhận “tính tự trị của các thực tại trần thế” cũng như “sự phân biệt giữa cộng đồng Giáo hội và cộng đồng chính trị”; và chính từ nhận thức đó, Giáo hội cống hiến một suy tư phát sinh từ ước muốn phục vụ công ích và nhắc nhớ về những điều làm cho sự chung sống của con người trở nên thực sự nhân bản (x. Magnifica Humanitas, 18, 19, 22).
Trong nghị trường này, sự chung sống của xã hội được thể hiện dưới hình thức pháp luật. Tại đây, những khác biệt được lắng nghe, được sắp xếp, và khi có thể, được chuyển hóa thành những quyết định chung. Vì thế, vượt lên trên sự đa dạng chính đáng của các lập trường, mọi hoạt động lập pháp cuối cùng đều phải đối diện với một câu hỏi quyết định: quan niệm nào về con người đang truyền cảm hứng cho các đạo luật, và những đạo luật ấy đang xây dựng nên một mô hình xã hội như thế nào?
Về điểm này, Tây Ban Nha sở hữu một di sản vô cùng phong phú. Bản sắc địa lý và chính trị của quốc gia này được đan xen với một lịch sử trong đó đức tin và lý trí, nghệ thuật và pháp luật, truyền thống và tư tưởng đã gặp gỡ nhau theo cách hiệu quả. Trong các nhà thờ chánh tòa và các đại học, trong nền văn học bất hủ, trong các thiết chế pháp lý và trong chính tinh thần của người dân của đất nước, trường tồn một di sản đã định hình nên phương thức sống sự tự do, thực thi công lý và tổ chức đời sống cộng đồng.
Từ những trang sách vượt thời gian của tác phẩm Don Quixote, nơi văn hào Cervantes tuyên bố rằng “tự do… là một trong những món quà quý giá nhất mà trời cao đã ban tặng cho con người” (Don Quixote de la Mancha, II, 58), đến chiều sâu thiêng liêng của Thánh Têrêsa Ávila; từ truyền thống pháp lý vĩ đại của Tây Ban Nha đến những trăn trở siêu hình của Unamuno, người từng nhắc nhớ rằng con người “không cam chịu chết đi hoàn toàn” (The Tragic Sense of Life, I), Tây Ban Nha đã biết nhìn nhận con người không chỉ đơn thuần như một bánh răng trong trật tự xã hội, kinh tế hay chính trị. Quốc gia này đã công nhận con người là một thụ tạo mở ra trước chân lý, được ban cho sự tự do, và được thúc đẩy bởi cơn khát vĩnh cửu mà không một thực tại trần thế nào có thể thỏa mãn, nói cách ngắn gọn, đó là một con người mà phẩm giá luôn vượt trên mọi giá trị thực dụng và là đối tượng phục vụ của mọi hoạt động lập pháp.
Vì lý do đó, hôm nay khi nói về con người, suy tư này dĩ nhiên dẫn chúng ta đến Salamanca và tư tưởng đã trưởng thành tại đó. Sự hiện diện mang tính biểu tượng trong hội trường này của Vua Ferdinand và Hoàng hậu Isabella gợi lại thời điểm Tây Ban Nha phải đối diện với những trách nhiệm lịch sử mang tầm vóc hoàn vũ. Vài năm sau đó, với sự sáng suốt đặc biệt, Salamanca đã thực hiện công cuộc suy tư về đạo đức và pháp lý mà hoàn cảnh đòi hỏi. Tại đại học đó, cách đây năm thế kỷ, khi những thế giới mới và những tiềm năng bao la đang mở ra trong các mối tương quan giữa các dân tộc, một số bậc thầy đã hiểu rằng không thể viện dẫn lý trí để hợp thức hóa bất cứ hình thức quyền lực hay lợi ích riêng nào được cho là tiện lợi. Vì thế, họ đã đưa vào việc phân định lịch sử câu hỏi về giá trị không thể giản lược của mỗi con người cũng như về các giới hạn đạo đức của quyền lực. Phải thừa nhận rằng xã hội và ngay cả Giáo hội không phải lúc nào cũng sống đúng với những hiểu biết sâu sắc được tìm thấy trong truyền thống Kitô giáo của mình.
Tuy nhiên, câu hỏi đó đã mở ra một chân trời trí tuệ và đạo đức vượt lên trên khoảnh khắc lịch sử của nó. Trực giác về totus orbis, về một cộng đồng nhân loại rộng lớn hơn bất kỳ quyền lực riêng biệt nào, đã cho phép khẳng định sự hiện hữu của các mối ràng buộc pháp lý và đạo đức giữa các dân tộc. Từ Tây Ban Nha, những suy tư của trường Salamanca, đặc biệt là của tu sĩ Francisco de Vitoria cùng với nhiều tu sĩ Dòng Đa Minh và Dòng Tên khác, đã góp phần định hình một ý thức pháp lý và đạo đức có khả năng nhắc nhớ rằng quyền bính luôn đi kèm với trách nhiệm, và mọi con người đều phải được nhìn nhận như chủ thể của các quyền lợi và nghĩa vụ. Khát vọng đó vẫn tiếp tục vang vọng ngày hôm nay: rằng phẩm giá, công lý và công ích phải là thước đo cho các mối tương quan xã hội, cả ở cấp độ quốc gia lẫn quốc tế.
Đây là một trong những di sản vĩ đại của Tây Ban Nha: kết hợp giữa hành động lịch sử với sự sáng suốt của lý trí đạo đức. Đóng góp ấy, được khai sinh bên dòng sông Tormes, đã vượt ra khỏi các giảng đường và thư viện, và trở thành một phần của ý thức rộng lớn hơn, được cộng đồng quốc tế chia sẻ, vẫn đang tiếp tục tự hỏi làm cách nào để xây dựng hòa bình đặt nền tảng trong việc nhìn nhận con người chứ không phải trong việc áp đặt sức mạnh. Di sản đó cũng đang sống trong Quốc hội này, mỗi khi các nhà lập pháp tự hỏi làm cách nào để bảo đảm rằng điều có thể thực thi phải là điều công chính, điều hợp pháp phải thực sự mang tính nhân bản, và ý chí của đa số phải bảo vệ những thiện ích thuộc về tất cả mọi người, cũng như tôn trọng những gì mà không một đa số nào có thể vi phạm theo cách hợp pháp.
“Câu hỏi Salamanca” vẫn tiếp tục hướng dẫn công việc của những người phục vụ đời sống chung. Ngày nay, những thế giới mới đang mở ra trước mắt chúng ta không còn được đánh dấu trên bản đồ địa lý; chúng mở ra trong công nghệ, kinh tế, y sinh học và không gian kỹ thuật số, nơi quyền lực của con người đang vươn tới những lãnh vực ngày càng nhạy cảm của đời sống cá nhân và xã hội.
Sự tiến bộ mang lại những tiềm năng đáng khâm phục, và ngày nay chúng ta nhìn thấy điều này cách đặc biệt qua sự phát triển của trí tuệ nhân tạo và những công nghệ mới. Như tôi đã nhắc đến trong thông điệp gần đây của tôi, công nghệ tự nó không mang tính trung lập, bởi vì nó mang khuôn mặt của những người thiết kế, tài trợ, điều hành và sử dụng nó (x. Magnifica Humanitas, 9); vì thế, trước những biến đổi của thời đại chúng ta, việc phân định cần phải tập trung vào vị trí của con người trong các quyết định của chúng ta, cũng như vào cách thức mà phẩm giá của lao động, tình liên đới, chính sách xã hội và công ích đang được giải quyết theo những phương thức mới hiện nay.
Việc phân định này bắt đầu từ một khẳng định nền tảng: mọi xã hội thực sự công bình đều được xây dựng trên sự nhìn nhận phẩm giá bất khả xâm phạm của con người. Phẩm giá ấy có trước mọi sự công nhận của Nhà nước và không bị lệ thuộc vào sự đồng thuận xã hội thường thay đổi hoặc vào ý muốn nhất thời của đa số tại bất kỳ thời điểm nào (x. Đức Bênêđictô XVI, Diễn văn tại Quốc hội Liên bang Đức, ngày 22 tháng 9 năm 2011). Nó thuộc về mỗi con người bởi chính sự hiện hữu của họ; và vì thế, nó phải hướng dẫn mọi hệ thống pháp luật thực định (positive legal system). Đức tin Kitô giáo công bố phẩm giá đó dựa trên nền tảng Mặc khải; lý trí con người có thể nhận biết nó như một đòi hỏi được ghi khắc trong chân lý về con người (x. sđd.). Khi sự xác tín này vẫn sống động, pháp luật trở thành sự bảo vệ dành cho mọi người và là sự bảo đảm chống lại việc áp đặt các lợi ích và chương trình hoạt động cục bộ.
Trên nền tảng này, hôm nay tôi cảm thấy có bổn phận nói một lời vừa ôn hòa vừa chắc chắn với những vị đang gánh vác trọng trách trong việc thiết lập trật tự pháp lý cho sự chung sống xã hội. Sự chung sống này có thể bị đe dọa bởi nền văn hóa vứt bỏ, như Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nhiều lần cảnh báo (x. Diễn văn trước Đại hội Toàn thể của Hàn lâm viện Giáo hoàng về Sự sống, 27 tháng 9 năm 2021). Theo nghĩa này, nếu sự sống không còn được nhìn nhận như một giá trị nền tảng, thì các xã hội của chúng ta sẽ có tương lai như thế nào? Một cộng đồng đẩy vào bóng tối những thai nhi chưa chào đời, người già, người bệnh, người đau khổ trong âm thầm, hoặc những người hoàn toàn lệ thuộc vào sự chăm sóc của người khác, có thể được gọi là hoàn toàn chính đáng không? Việc bảo vệ sự sống con người không phải là vấn đề thuộc đảng phái hay lợi ích tôn giáo; đó là một mục tiêu của nền văn minh. Mọi sự sống con người phải được công nhận và bảo vệ từ lúc thụ thai cho đến khi kết thúc tự nhiên, trong mọi hoàn cảnh sống. Khi xác tín này bị mờ nhạt, những người dễ bị tổn thương nhất sẽ là nạn nhân đầu tiên, và pháp luật mất đi ý nghĩa sâu xa nhất của nó: phục vụ và bảo vệ mỗi con người. Vì thế, sự vĩ đại về đạo đức của một quốc gia được biểu lộ trước hết qua khả năng đồng hành, bảo vệ và yêu thương những sự sống mong manh nhất.
Công ích, theo một nghĩa nào đó, là “biểu hiện xã hội của phẩm giá được nhìn nhận nơi mỗi con người” (Magnifica Humanitas, 59). Nó không đơn thuần bao hàm tổng số các lợi ích riêng lẻ, nhưng là “tổng hòa những điều kiện của đời sống xã hội cho phép các nhóm xã hội và từng thành viên của nó đạt tới sự viên mãn cho bản thân một cách tương đối trọn vẹn và dễ dàng hơn” (Gaudium et Spes, 26). Khi công ích không còn là chân trời chung, hoạt động công quyền có nguy cơ bị phân mảnh thành những lợi ích cục bộ, không còn khả năng bảo vệ những gì thuộc về tất cả mọi người.
Trong bối cảnh này, gia đình, thực tại nhân bản nền tảng và là nền móng tự nhiên của cộng đồng, mang một tầm quan trọng đặc biệt. Trong gia đình, các thế hệ đan xen và một ký ức sống động được truyền lại, mang đến sự liên tục nội tại cho xã hội. Nơi nào gia đình được nâng đỡ, sự ổn định tinh thần và xã hội của các quốc gia cũng được củng cố. Gia đình sẽ luôn là ngôi trường đầu tiên của con người, nơi người ta học được, trước bất kỳ nơi nào khác, ngữ pháp căn bản của đời sống chung: đón nhận sự sống, chăm sóc người khác, tha thứ, phục vụ và thuộc về nhau.
Các cơ sở giáo dục cũng giữ một vai trò quyết định trong nhiệm vụ này. Chính tại đó, các thế hệ trẻ có thể học cách tìm kiếm và yêu mến chân lý, suy tư về ý nghĩa cuộc sống và phẩm giá của mỗi con người. Vì thế, nhiều bậc cha mẹ mong muốn con cái mình học cách tương quan với tha nhân, biết tư duy phản biện, và tiếp thu những giá trị vững chắc, đã đặt niềm hy vọng lớn lao vào các cơ sở này, xem đó là những đồng minh quý giá trong việc giáo dục con cái. Sự hợp tác đó phải luôn tôn trọng “quyền ưu tiên và không thể chuyển nhượng” của cha mẹ trong việc “lựa chọn loại hình giáo dục và đào tạo cho con cái mình, theo cách thức phù hợp với những xác tín về đạo đức, văn hóa và tôn giáo của họ” (x. Magnifica Humanitas, 143; x. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, điều 18.4).
Việc khẳng định phẩm giá con người không thể dừng lại ở mức trừu tượng khi có quá nhiều người đang bị buộc phải bỏ lại tất cả sau lưng để tìm kiếm hòa bình, an ninh và một tương lai. Thảm kịch di cư ngày nay cũng đang thách thức lương tâm của các quốc gia và nền tảng đạo đức của trật tự quốc tế. Không biết bao nhiêu người nam, nữ và trẻ em, vì những hoàn cảnh thường rất bi đát, bị buộc phải rời bỏ cộng đồng của mình, bỏ lại những người thân yêu, lịch sử và các mối dây gắn bó của họ. Thực tại này vượt ra ngoài mọi phân tích về nhân khẩu học hay kinh tế thuần túy: nó cấu thành một vấn đề đạo đức và pháp lý cách đặc biệt. Bất cứ nơi nào con người bị phân biệt đối xử vì nguồn gốc quốc gia, sắc tộc, tôn giáo hay ngôn ngữ, hoặc vì tình trạng kinh tế và xã hội của họ, thì nguyên tắc phổ quát về phẩm giá bình đẳng của con người đang bị vi phạm một cách nghiêm trọng.
Tình cảnh của người di cư và người tị nạn đòi hỏi một câu trả lời tập trung vào con người, giải quyết các nguyên nhân gốc rễ buộc họ phải ra đi, và vượt lên trên việc quản lý các dòng người di cư. Điều này làm nảy sinh hai yêu cầu về công bằng xã hội: mở ra những con đường an toàn và hợp pháp, sự đón nhận tôn trọng cùng những cơ hội hội nhập thực sự; đồng thời, thúc đẩy quyền được ở lại trên chính mảnh đất quê hương mình, nỗ lực bảo đảm rằng không ai phải rời bỏ nhà cửa chỉ vì vắng bóng hòa bình, an ninh hoặc những điều kiện sống xứng đáng, kể cả do những bất bình đẳng kinh tế và hệ quả của cuộc khủng hoảng khí hậu (x. Magnifica Humanitas, 81).
Trong những năm gần đây, các tuyến đường ngày càng trở nên nguy hiểm đã cho thấy cái giá phải trả vô cùng lớn của thực trạng này, vốn thường bị che giấu hoặc bị bỏ qua. Nhiều người đã trở thành con mồi cho những kẻ buôn người và đưa người lậu, những kẻ lợi dụng sự tuyệt vọng của họ. Cần phải tăng cường các biện pháp phòng ngừa, giải cứu và hỗ trợ các nạn nhân, đặc biệt trong khuôn khổ hợp tác khu vực và đa phương.
Không một quốc gia nào có thể tự mình đối diện với một thách thức có tầm mức lớn như vậy. Vì thế, cần phải có một phản ứng phối hợp, hỗ trợ và hiệu quả, một phản ứng có khả năng bảo đảm sự bảo vệ, tiếp đón và những cơ hội hội nhập thực sự cho người di cư. Khi phản ứng của các thể chế trở nên dễ tiếp cận, công bằng và có sự phối hợp, các biên giới sẽ không còn là những nơi bị bỏ mặc, nhưng có thể trở thành những không gian cho sự bảo vệ đầy trách nhiệm đối với phẩm giá con người.
Thưa quý bà và quý ông,
Thế giới đang trải qua một cuộc khủng hoảng sâu sắc về tinh thần và văn hóa, biểu hiện qua nhiều hình thức bạo lực, phân cực và mất lòng tin lẫn nhau. Trong bối cảnh đó, hòa bình nổi lên như một khát vọng chính trị, và hơn thế nữa, như một mệnh lệnh đạo đức đích thực. Hòa bình đòi hỏi một diễn ngôn công biết tôn trọng những người có suy nghĩ khác biệt, những thể chế tận tâm thúc đẩy đối thoại, một ký ức lịch sử biết tìm kiếm sự thật và hòa giải, cùng một đời sống xã hội có khả năng nuôi dưỡng tình bằng hữu công dân và sự tôn trọng lẫn nhau ngay giữa những bất đồng.
Trên phương diện quốc tế, hòa bình đòi hỏi lòng can đảm ngoại giao, trách nhiệm đạo đức và một tầm nhìn về tương lai đặt nền trên sự tôn trọng bản sắc của mỗi dân tộc cũng như trong nghĩa vụ của các nhà nước trong việc giải quyết các tranh chấp của họ thông qua những biện pháp hòa bình mà luật pháp quốc tế cung cấp. Sau cùng, mọi cuộc chiến tranh đều là một thất bại đau đớn của khả năng đàm phán, đồng thời cũng là thất bại của chính ý thức nhân loại chung vốn nhìn nhận những mối ràng buộc công lý giữa các quốc gia. Vũ khí có thể áp đặt một sự im lặng tạm thời, nhưng không bao giờ có thể xây dựng một nền hòa bình chân chính và lâu bền.
Vì thế, thật đáng lo ngại khi tại nhiều nơi trên thế giới, kể cả ở châu Âu, việc tái vũ trang một lần nữa đang được trình bày như một phản ứng gần như không thể tránh khỏi trước sự mong manh của tình hình quốc tế. Tuy nhiên, an ninh đích thực phát sinh từ công lý, từ đối thoại kiên trì, từ sự tôn trọng luật pháp quốc tế và từ một nền chính trị có khả năng đặt đời sống của các dân tộc cao hơn những lợi ích tìm được từ chiến tranh. Sự phát triển của các công nghệ mới và trí tuệ nhân tạo trong lãnh vực quân sự cũng đòi hỏi một sự giám sát đạo đức nghiêm ngặt, để các quyết định liên quan đến sự sống và cái chết không bao giờ bị giao phó cho các hệ thống tự động cũng như không bị tách rời khỏi trách nhiệm đạo đức của con người (x. Diễn văn tại Đại học La Sapienza, 14 tháng 5 năm 2026).
Cộng đồng quốc tế được kêu gọi tái khám phá giá trị không thể thiếu của đối thoại như một con đường kiên trì dẫn tới những thỏa thuận công bằng và bền vững, được thiết lập trên sự tôn trọng các hiệp ước, trên tính minh bạch của hành động ngoại giao và trên ý chí chân thành đặt ưu tiên hòa bình hơn sử dụng vũ lực. Từ đó nảy sinh niềm tin tưởng và hy vọng.
Như khẩu hiệu của Liên minh Châu Âu, In varietate concordia (Hiệp nhất trong đa dạng), nhắc nhở chúng ta, sự hiệp nhất đích thực không đồng hóa, mà đúng hơn là liên kết trong sự đa dạng, biến các nền văn hóa, những cảm thức và các truyền thống trở thành một cơ hội để làm phong phú lẫn nhau.
Tương tự như vậy, trong chính các xã hội, việc xây dựng một văn hóa hỗ tương là điều cấp thiết. Chủ nghĩa đa nguyên chính trị không được biến thành sự bài xích liên tục đối với đối thủ của mình. Trong một xã hội trưởng thành, ngay cả xung đột cũng có thể trở thành con đường dẫn đến hòa bình, khi những khác biệt được làm dịu đi nhờ sự lắng nghe và được định hướng tới việc nhìn nhận các nhu cầu, khát vọng và khả năng của tất cả mọi người.
Nhưng hòa bình không thuần túy là một thực tại chính trị hay thể chế. Hòa bình còn là hoa trái của lương tâm, nơi lòng oán hận, sự thờ ơ và hận thù nhường chỗ cho hòa giải. Vì lý do đó, hòa bình cũng được thiết lập và bảo vệ bằng ngôn ngữ. Lời nói có thể mở ra những con đường hoặc khép chúng lại; có thể soi sáng thực tại hoặc bóp méo thực tại đến mức làm cho sự gặp gỡ trở nên bất khả thi. Do đó, những người nắm giữ trách vụ công quyền có nghĩa vụ đặc biệt phải thận trọng trong lời nói của mình nhằm giải giới ngôn từ (x. Sứ điệp Mùa Chay 2026, ngày 13 tháng 2 năm 2026). Sự cương quyết không đòi hỏi phải khinh miệt; bất đồng không kéo theo sự hạ nhục.
Từ sự tôn trọng tha nhân này cũng phát sinh nghĩa vụ phải bảo vệ không gian nơi những xác tín, lương tâm và tương quan của họ với Thiên Chúa được trưởng thành. Việc quan tâm đến chiều kích nội tâm này cho phép hiểu rõ hơn một vấn đề mang tính quyết định đối với mọi xã hội thực sự dân chủ: tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo, một quyền căn bản bảo vệ lãnh vực riêng tư sâu kín nhất của con người. Quyền tự do mà nhà nước đương đại được xây dựng trên đó, nếu là chân thực, sẽ nhìn nhận chiều kích tôn giáo của con người, tôn trọng và bảo vệ nó về mặt pháp lý; và bảo đảm rằng đức tin không phải là lý do khiến một người bị mất đi sự đóng góp của mình cho xã hội.
Không lẫn lộn lãnh vực pháp lý với lãnh vực đạo đức, nhưng cũng cần nhắc lại rằng tự do phải được hiểu trong tính toàn vẹn của nó. Tự do không đơn thuần có nghĩa là thoát khỏi sự ép buộc hay có nhiều sự lựa chọn; nó có nghĩa là có khả năng nhận biết điều thiện và cam kết với điều thiện một cách có trách nhiệm. Vì thế, mọi xã hội thực sự tự do cũng đòi hỏi phải có những giới hạn thích hợp đối với quyền lực công, để tự do của các cá nhân, cộng đồng và các hội đoàn không bị hạn chế cách bất hợp lý (x. Dignitatis Humanae, 1). Từ quan điểm này, tính tự trị chính đáng của trật tự trần thế không bao giờ xem mình là thù nghịch với tôn giáo. Đức tin không tìm cách áp đặt chính nó bằng những đặc quyền hay sự ép buộc; nhưng đức tin cũng không thể bị buộc phải im tiếng như thể nó không có liên hệ gì đến đời sống chung.
Trong bối cảnh này, ấn tín bí tích của tòa giải tội giữ một tầm quan trọng đặc biệt đối với Giáo hội Công giáo. Nó là một phần của lãnh vực rộng lớn hơn của tự do tôn giáo, bảo đảm cho các cộng đồng tín ngưỡng một không gian riêng cho đời sống, tổ chức và kỷ luật nội bộ của họ (x. Hội nghị về An ninh và Hợp tác Châu Âu, Định ước Helsinki, 1 tháng 8 năm 1975, Nguyên tắc VII). Bảo vệ nó về mặt pháp lý, như được thực hiện theo cách tương tự trong một số ngành nghề, có nghĩa là gìn giữ một không gian thánh thiêng của tự do nội tâm, nơi người tín hữu có thể mở lòng mình ra trước Thiên Chúa mà không lo sợ những áp lực bên ngoài, như các quy chuẩn quốc tế cũng công nhận (x. Tòa án Hình sự Quốc tế, Quy tắc Thủ tục và Chứng cứ, Quy tắc 73.3).
Thưa quý bà và quý ông,
Cho phép tôi dừng lại đôi chút để suy tư về một vài hình ảnh trang hoàng trong nghị trường này. Trong nghị trường này, ánh sáng tự nhiên tràn vào qua giếng trời trên đỉnh vòm của căn phòng. Ánh sáng từ trên cao đó nhắc nhở chúng ta rằng chính trị cũng phải biết nhìn nhận một quyền năng có trước và vượt trên chính nó.
Tương tự như thế, các bức họa ở phần trên của bức tường chính, mô tả việc đón nhận Tin mừng và Mười Điều răn, nhắc nhở chúng ta về một điều cốt yếu. Không nhầm lẫn trật tự chính trị với trật tự tôn giáo, nhưng những biểu tượng này mời gọi chúng ta nhận ra rằng nền tự do hiện đại cũng đã được định hình bởi một tiến trình giáo dục lương tâm lâu dài, được ghi dấu sâu đậm bởi truyền thống Kitô giáo. Trong ngôi trường nội tâm ấy, con người đã học được rằng luật pháp phải phục vụ điều thiện, công lý phải đặt giới hạn cho sức mạnh, quyền lực cần có tính hợp pháp, người nghèo là thành phần trọn vẹn của cộng đồng, người ngoại kiều phải được đón nhận phù hợp với phẩm giá của họ, và sự sống con người không bao giờ được đối xử như một món hàng.
Một đạo luật không đạt tới sự vĩ đại thực sự của nó chỉ đơn thuần bằng việc đã được ban hành đúng hình thức; nó đạt được điều đó, ngoài việc có hiệu lực về mặt hình thức, khi nó có thể đứng vững trước phẩm giá của con người và vượt qua cuộc thử thách đó mà không phải hổ thẹn.
Vì thế, tôi mời gọi quý vị hãy nâng tầm nhìn của mình ra thế giới chung quanh, không phải để quay lưng với thực tại, nhưng để nhớ rằng mọi quyết định của các cơ quan công quyền đều tác động đến những con người cụ thể, nhất là những người ít có quyền hạn nhất để làm cho tiếng nói của họ được lắng nghe. Sự rộng lớn trong tầm nhìn của một người chính là việc nhìn sâu hơn vào những gì thực sự đang bị tác động trong mỗi quyết định chung. Đó là lý do vì sao, bên cạnh các giải pháp kỹ thuật và những cải cách pháp lý, một sự canh tân đạo đức cũng rất cần thiết.
Tây Ban Nha có nhiều điều để cống hiến cho hành trình này. Quốc gia này sở hữu một ngôn ngữ làm cầu nối giữa các châu lục; một truyền thống văn hóa, pháp lý và tinh thần đã thành công trong việc thúc đẩy cuộc đối thoại giữa đức tin và lý trí, giữa pháp luật và lương tâm, giữa sự hiệp nhất và tính đa dạng. Kinh nghiệm lịch sử đó cũng nhắc chúng ta nhớ về giá trị của sự hòa hợp và của nỗ lực kiên trì xây dựng một xã hội hòa bình và công chính.
Ước mong dân tộc cao quý này không bao giờ đánh mất cái nhìn về cội nguồn của mình, cũng như lòng can đảm để hướng về tương lai. Ước mong Tây Ban Nha tiếp tục là miền đất của sự gặp gỡ, của văn hóa, của tình liên đới và của niềm hy vọng. Và nguyện chúc cho đời sống chung của đất nước luôn biết kết hợp sự kiên định trong các xác tín với sự cao quý của đối thoại và sự cao cả của tinh thần phục vụ. Xin Thiên Chúa ban hòa bình cho mọi dân tộc trên mặt đất, ban sự hòa hợp cho các gia đình và sự bình an cho các lương tâm. Xin cho những ngày tháng thịnh vượng, công lý và hòa bình bền vững ngự trị trên Vương quốc Tây Ban Nha, miền đất được ghi dấu bởi dấu chân tông đồ của Thánh Giacôbê và bởi sự hiện diện hiền mẫu của Đức Mẹ Cột trụ. Xin chân thành cảm ơn quý vị.
Chuyển ngữ từ: vatican.va
Để lại một phản hồi