Sứ Điệp và Các Phép Lạ Fatima

Sứ điệp của Ðức Maria và các phép lạ Fatima, Thiên Chúa muốn nói cho nhân loại biết rằng Người vẫn luôn hiện diện và đồng hành với họ, nhất là Người hằng yêu thương họ và muốn chỉ cho họ con đường dẫn tới sự sống chân thật.

 

our-lady-of-Fatima.jpg  

 

 

1. Lời mời gọi của Mẹ Maria

Trong thời đại ngày nay Thiên Chúa đã phán cùng thế giới qua Ðức Trinh Nữ Maria. Mẹ đã lên tiếng mời gọi và nhắn nhủ tất cả mọi dân tộc phải cải thiện đời sống và trở lại với Thiên Chúa. Vào năm 1917 tạiFatima, Mẹ đã nói: “Nếu người ta thực thi những gì Mẹ nhắc nhủ thì hòa bình sẽ được vãn hồi”. Ðây phải là những lời đầy yêu thương của một người Mẹ từ Trời Cao nhắn gửi con cái loài người. Trước khi hiện ra tại Fatima (Bồ Ðào Nha), Ðức Mẹ cũng đã từng hiện ra ở các nơi khác và tỏ ra vô cùng lo âu, vì loài người đã xa lìa đường lối của Thiên Chúa. Năm 1830 Ðức Mẹ hiện ra tại Balê, năm 1846 tại La Salette, năm 1858 tại Lộ Ðức (Pháp) và sau này vào năm 1933 tại Banneux (Bỉ). Ở tất cả những nơi đó Ðức Mẹ đều mời gọi nhân loại hãy cầu nguyện và cải thiện đời sống. Tuy nhiên, thế giới vẫn không hề quan tâm đến lời mời gọi của Mẹ và các dân tộc vẫn tiếp tục gây tang tóc cho nhau qua các cuộc chiến tranh vô nghĩa.

Bao nhiêu đau thương đã có thể ngăn chận được, nếu như nhân loại biết lắng nghe những lời nhắn nhủ của Mẹ. Thế giới tân tiến ngày nay đã phát triển theo một chiều hướng sai lầm nguy hiểm, nên cần phải nhắc lại sứ điệp của Ðức Trinh Nữ Maria đã phán tại Fatima. Các sự cố trên thế giới đã xảy ra quá nhanh chóng. Một câu hỏi được đặt ra là ai sẽ chiến thắng: Thiên Chúa hay tướng quỉ Lu-xi-phe, Thiên đàng hay hỏa ngục, ánh sáng hay bóng tối? Và câu trả lời hoàn toàn tùy thuộc vào nhân loại có lắng nghe và thực thi những lời Mẹ nhắn nhủ hay không.

Thiên Chúa sẽ là vua cai trị thế giới hay thế giới sẽ rơi vào ách thống trị của Satan? Vương quốc của Mẹ sẽ mở đường cho Vương quốc của Ðức Kitô. Ðó là sự lạc quan mà chúng ta tin tưởng chắc chắn có được trong một thời đại đen tối như hôm nay.

– Lần hiện ra thứ nhất: Chúa nhật 13.05.1917

Vào năm 1917, đệ nhất thế chiến vẫn còn tàn phá Âu Châu và đe dọa lôi kéo theo nhiều dân tộc khác vào vòng máu lửa và chết chóc.

Giữa cảnh tàn khốc do những năm tháng chinh chiến gây ra và vào lúc cuộc cách mạng vô thần chông đối tôn giáo tại Nga bùng nổ và đang bành trướng ra khắp nơi trên thế giới, thì Ðức Mẹ đã hiện ra tại Cova da Iria, một thung lũng kế cận Fatima, thuộc vùng Leira, nước Bồ Ðào Nha, cùng ba trẻ chăn chiên. Ðó là các em Lucia dos Santos, 10 tuổi, và hai anh em Francisco và Jacinta Marto. Các em là những trẻ em dân quê chất phác, trong trắng, cần mẫn và chưa hề cắp sách đến trường.

Trong lúc các em đang ngồi chơi đá, sau khi đã cùng nhau lần hạt theo hồi chuông nhà thờ đổ như thói quen, thì đột nhiên một luồng ánh sáng từ một tia chớp chiếu sáng cả bầu trời quang đãng đã làm cho các em kinh hoàng. Vì nghĩ rằng trời sắp đổ mưa, nên các em vội vàng lùa chiên về làng. Nhưng đến giữa sườn đồi, bên cạnh một cây sồi cổ thụ, một tia sáng mới lại làm cho các em lóa mắt. Như bị thu hút, các em đã dừng chân lại. Bấy giờ các em thấy trên một cây sồi nhỏ một bà rất đẹp đang phất phới trong một vòng hào quang rực rỡ hơn cả mặt trời đứng ngọ. Ðể các em bé khỏi hoảng sợ và tin tưởng đến gần mình, bà đẹp nói với các em: “Các con đừng sợ, bà không làm gì hại đến các con đâu”. Áo bà trắng như tuyết và phủ dài đến tận chân. Cổ bà mang một giây chuyền vàng với hai nụ tơ vàng. Áo khoác bên ngoài của bà viền vàng, phủ đầu và một phần lớn người bà. Nét mặt của bà rất dịu hiền, nhưng đượm vẻ buồn. Hai tay bà chắp trước ngực, có mang một chuỗi tràng hạt bằng ngọc trắng thật đẹp với tượng thánh giá bằng bạc gắn ở đầu chuỗi. Một vùng hào quang phủ quanh mặt và người bà.

Bấy giờ Lucia lấy hết bình tĩnh và mạnh dạn hỏi bà đẹp:

“Thưa bà, bà từ đâu tới?”

– “Bà từ trên trời xuống.”

“Thưa bà, bà muốn gì nơi chúng con?”

– “Bà đến đây để muốn chúng con trở lại với bà vào ngày 13 mỗi tháng cũng vào giờ này mãi cho đến tháng mười. Vào tháng mười bà sẽ nói cho các con biết bà là ai và bà muốn gì nơi các con.”

Người đàn bà đẹp còn báo cho các em biết trước là các em sẽ phải chịu nhiều thử thách đau khổ và bà xin các em hãy can đảm chịu khó đền thay cho tội lỗi và những xúc phạm đến Thiên Chúa của thời đại tân tiến ngày nay. Bà khuyên các em hãy chăm chỉ lần hạt Mân Côi mỗi ngày để cầu nguyện cho những người có tội biết ăn năn cải thiện và cho thế giới được hòa bình. Sau đó bà đẹp bay về hướng đông biến mất vào trong ánh thái dương.

Ngỡ ngàng qua sự cố lạ lùng vừa nhìn thấy, lòng tràn đầy ân sủng, ba em trở về nhà và thuật lại cho mọi người nghe, nhưng không một ai cho tất cả những gì các em vừa chứng kiến là thật. Người ta cho là các em nói dối. Bà mẹ của Lucia còn đánh đập em và cấm em không được nói dối như thế.

Ðó là các thử thách đầu tiên mà các em bé thánh thiện này phải gánh chịu. Ngày hôm sau tin tức về sự lạ đã xảy ra được loan đi khắp làng nhanh như chớp và bất chấp mọi nhạo cười và ngờ vực của dân cư trong làng, các em vẫn luôn giữ vững lời tường thuật của mình cũng như lời đã hứa với bà đẹp và dâng cho Chúa những sự đau khổ để đền tội như lời bà đã dạy.


– Lần hiện ra thứ hai: Thứ tư, 13.06.1917

 

Câu chuyện trao đổi lần thứ hai này giữa vị Thiên Nữ và ba trẻ kéo dài độ 10 phút. Các người đứng chung quanh đều nghe Lucia nói, nhưng không nghe và không trông thấy bà hiện ra. Họ chỉ ghi nhận một hiện tượng khác thường là vào cuối cuộc gặp gỡ kỳ bí đó là các lá sồi đều nghiêng về hướng đông một cách kỳ lạ như thể có một bàn tay vô hình nào đó vừa lướt qua và người ta nghe từ phía cây sồi có một tiếng động mạnh như tiếng sấm trong lòng đất, rồi một làn mây trắng mỏng từ từ bay nhẹ lên trời. Bấy giờ Lucia đưa tay chỉ về hướng đám mây và kêu to: “Nếu các ông các bà muốn nhìn thấy Bà, thì Bà đang kia kìa” và sau đó một lúc em lại nói: “Bây giờ thì qua hết rồi. Trời đã khép lại rồi.”


– Lần hiện ra thứ ba: Thứ sáu, 13.07.1917

 

Ðến ngày 13 tháng 7, vào khoảng 5,000 người đã từ khắp nơi kéo về Fatima để muốn chứng kiến tận mắt sự cố lạ lùng. Ðúng vào giữa trưa, một tia sáng rực rỡ tỏa ra và vị Thiên Nữ xuất hiện.

Trong lần hiện ra thứ ba này, Mẹ Maria cho ba trẻ xem một biển lửa vĩ đại và có những vật thể cháy đen đang phải ngụp lặn trong đó, ma quỷ và các linh hồn có hình dáng người trong suốt và đỏ hồng. Ðức Mẹ cho các em hay là sẽ có nhiều linh hồn phải sa hỏa ngục. Ðức Mẹ phán: “Ðể cứu vớt các linh hồn đó, Thiên Chúa muốn nhân loại phải tôn sùng Mẫu Tâm Vô Nhiễm của Bà. Nếu nhân loại biết thực thi các lời nhắn nhủ của Bà thì nhiều người sẽ được cứu rỗi và nền hòa bình sẽ được vãn hồi”.

Tiếp đến, Ðức Mẹ còn nói: “Nếu nhân loại biết lắng nghe các ước muốn của Bà, thì nước Nga sẽ trở lại và sẽ có hòa bình. Nếu không, chủ nghĩa cộng sản vô thần sẽ bành trướng và gieo rắc lạc thuyết ra khắp nơi trên thế giới, chiến tranh và các cuộc đàn áp tôn giáo lại tiếp diễn. Các người thành tâm sẽ bị đày đọa, Ðức Thánh Cha sẽ phải chịu nhiều đau khổ, nhiều dân tộc sẽ bị tiêu diệt, nhưng cuối cùng Trái Tim Bà sẽ thắng”.

Ðức Mẹ cũng báo trước là để cho mọi người có thể tin, trong lần hiện ra vào tháng 10 tới sẽ xảy ra một phép lạ cả thể.

– Lần hiện ra thứ tư và thứ năm trong tháng 8 và tháng 9.1917

 

Các sự kiện xảy ra tại Cova da Iria và lời báo trước về phép lạ sẽ xảy ra đã lôi cuốn thêm nhiều người vào sự quyến rũ kỳ diệu hơn nữa. Trong khi đó những kẻ thù của Giáo Hội cũng tìm cách len lỏi vào. Họ chỉ trích những sự kiện xảy ra tạiFatima qua những bài diễn thuyết và những bài báo với những lời thoá mạ và mỉa mai.

Vào tháng 8, ông quận trưởng quận Ourem đã cho bắt ba em bé và tìm đủ cách bắt các em phải thú nhận là các em đã nói dối. Họ dọa sẽ bỏ tù các em và cả việc xử tử các em nữa. Thế nhưng mọi dọa nạt đó đều vô hiệu quả và những kẻ bất nhân đành bó buộc phải trả các em lại cho cha mẹ các em vào hai ngày sau đó. Tiếp đến, hai cảnh sát viên lại được lệnh của ủy ban thị xã đến thẩm vấn các em. Trong khi đó toàn nước Bồ Ðào Nha đều hướng về Fatima. Các cấp chính quyền tìm cách ngăn chận một cuộc tập trung dân chúng đông đảo hơn nữa. Họ cũng đưa ra những lời hứa suông và những lời đe dọa thâm độc, nhưng tất cả đều vô ích! Trái lại, sự bắt bớ chống đối càng giúp cho các em thêm can đảm hơn nữa. Các em nói: “Nếu người ta giết chết chúng con, thì càng tốt ! Vì như vậy, chúng con sẽ mau được lên Thiên Ðàng!” Hành động của ông quận trưởng đã mang đến một hiệu quả trái ngược là không một ai còn nghi ngờ sự thành thực của các em nữa và người ta kết luận rằng đây thực sự là những hiện tượng mang tính cách siêu nhiên.

– Lần hiện ra thứ sáu: Thứ bảy, 13.10.1917

Càng gần đến ngày 13 tháng 10, dân chúng Bồ Ðào Nha càng thêm rạo rực chờ đón hiện tượng đã được báo trước là sẽ xảy ra trong lần hiện ra cuối cùng này. Cả hai phía, ủng hộ cũng như chống đối, đều hăng hái và đã ảnh hưởng sâu xa đến dân chúng.

Vào đúng ngày 13 tháng 10, tuy trời đổ mưa và giá buốt, đoàn người khắp nơi vẫn tiếp tục lũ lượt kéo về hiện trường, nơi xảy ra sự lạ. Cho đến trước trưa người ta ước đoán đã có khoảng 50,000 người thuộc đủ mọi thành phần xã hội và tuổi tác từ khắp nơi tới. Trong số họ có cả những phóng viên của những hãng thông tấn danh tiếng tại Bồ Ðào Nha. Hàng ngàn người tuy bị ướt sũng nước mưa, nhưng vẫn kiên nhẫn đứng chờ sự lạ tại thung lũng Iria.

Ðúng giữa trưa, một tia sáng chói lọi báo cho các em biết sự xuất hiện của vị Thiên Nữ. Bỗng chốc một đám mây trắng bao phủ các em bé và người ta thấy đám mây lại bay lên cao độ mấy mét.

Sau đó Lucia đã kể lại cuộc trao đổi giữa vị Thiên Nữ và ba em xảy ra như sau:

“Thưa Bà, Bà là ai và Bà muốn gì nơi con?”

– “Bà là Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi. Bà muốn người ta xây dựng nơi đây một nhà nguyện để kính Bà. Con hãy tiếp tục lần hạt Mân Côi mỗi ngày. Nhân loại phải cải thiện đời sống và ăn năn hối cải!”

Khi nói đến những lời cuối cùng này, gương mặt vị Thiên Nữ trở nên buồn bã. Một cách thành khẩn và đầy chua xót, vị Thiên Nữ đã thốt lên lời cuối cùng và đồng thời cũng là lời trọng yếu của sứ điệp Fatima: “Nhân loại hãy đừng xúc phạm đến Thiên Chúa nữa, Người đã bị xúc phạm quá nhiều rồi!”

Vị Thiên Nữ liền mở rộng đôi tay và từ tay Bà phát ra một luồng sáng chiếu tận đến chân trời hướng về phía thái dương.

“Kìa, hãy nhìn mặt trời!” Lucia bỗng kêu to lên, và tất cả mọi người có mặt liền được chứng kiến một hiện tượng kỳ lạ như chưa bao giờ có: Cơn mưa bỗng chốc tạnh hẳn, bầu trời đang tối sầm bỗng sáng rực và vầng thái dương xuất hiện trong ánh sáng huy hoàng trên bầu trời đứng ngọ. Ai cũng có thể nhìn thẳng vào mặt trời mà không bị hư mắt.

Một lúc sau mặt trời bắt đầu quay tròn như một vòng lửa với một tốc độ rất nhanh, phát ra những tia lửa đỏ hồng và nền trời cũng như mặt đất đều chìm sâu vào trong ánh sáng huyền diệu. Sự kiện này xảy ra liên tiếp ba lần, cách nhau quãng chỉ trong chốc lát thôi, và mỗi lần xảy ra màu sắc lại thêm lộng lẫy hơn. Còn đám đông thì đứng lặng yên như nín thở, bị cuốn hút ngất ngây.

Ðột nhiên, mặt trời tự tách ra khỏi bầu trời và tiến gần mặt đất với những bước nhẩy ngoằn ngoèo. Hàng ngàn cửa miệng liền la to thất thanh và đám đông trở nên hỗn loạn: “Chúng tôi chết mất!”, “Lạy Chúa Giêsu!”, “Phép lạ đấy!”, “Kính Mừng Maria!”, v.v… Mọi người không ai bảo ai liền quì gối và hát to kinh Tin Kính. Hiện tượng huyền diệu đó kéo dài độ 10 phút. Và không chỉ những người có mặt hôm đó tại Iria, nhưng cả những người khác ở chung quanh Fatima cũng được diễm phúc chứng kiến hiện tượng kỳ lạ hiếm có đó. Một điều kỳ lạ nữa là áo quần của những người có mặt đang bị ướt sũng nước mưa, đột nhiên trở nên khô ráo hoàn toàn.

Trong khi mọi người đang bị say sưa thu hút bởi phép lạ mặt trời, thì ba em bé đạo hạnh lại được chứng kiến một hiện tượng khác nữa: Ba em nhìn thấy Thánh Gia Thất đang đứng bên cạnh mặt trời, bên phải là Mẹ Maria mặc áo choàng mầu trắng và áo dài màu xanh, bên trái là thánh Giuse và Chúa Giêsu Hài Ðồng. Chúa ban phép lành cho thế giới.

Lần hiện ra cuối cùng này kéo dài hơn và không có đối thoại. Ðó cũng là sự kết thúc một cách long trọng 6 lần hiện ra đầy linh thiêng kỳ diệu của Mẹ Thiên Chúa tại Fatima.

Nhưng người ta tự hỏi tại sao lại có những phép lạ xảy ra trong các lần hiện ra của Mẹ Maria như thế? Câu trả lời thật quá rõ ràng, là để minh chứng cho thế giới biết đây là sự thật, và để nhân loại chân nhận cách rõ ràng hơn sứ điệp của Trời Cao được ban bố qua Mẹ từ ái. Chúng ta đừng để cho sứ điệp này bị rơi vào quên lãng!

Tối hậu thư của Thiên Chúa

Qua Mẹ Maria tại Fatima, Thiên Chúa đã gởi cho thế giới một tối hậu thư. Hình như hạn định Người đưa ra vẫn chưa hết hẳn. Nếu chúng ta không thể cản ngăn được dòng băng tuyết cuốn trôi, thì ít ra chúng ta cũng có thể làm giảm thiểu sức mạnh và lộ trình của nó. Vậy đây là lúc chúng ta phải quyết định. Tối hậu thư mà Thiên Chúa gởi qua Mẹ Maria là:

(1) Hoặc chấp nhận vương quyền của Thiên Chúa hay thế giới sẽ bị rơi xuống vực thẳm.

(2) Hoặc cải thiện đời sống hay rơi vào hỗn loạn.

(3) Hoặc siêng năng đọc kinh cầu nguyện hay là hỏa ngục đời đời cho nhiều người.

(4) Hoặc chấp nhận quyền Nữ Vương của Mẹ Maria hay chiến tranh và sự bành trướng của chủ thuyết vô thần sai lạc.

(5) Hoặc thống hối ăn năn hay sự tiêu diệt.

Tại Fatima Ðức Mẹ đã mang đến cho thế giới và những người thiện tâm niềm an ủi, nhưng đồng thời cả những lời nhắn nhủ nghiêm trọng, là phải ăn năn đền bù tội lỗi, sự đe dọa chiến tranh, sự đàn áp tôn giáo và các đau khổ sẽ xảy ra nếu nhân loại không biết nghe theo lời Mẹ. Nhiều dữ kiện đã được ứng nghiệm và nếu không có sự cải thiện canh tân thì nhiều điều bí mật làm rung động thế giới sẽ lộ diện. Vậy, ít nhất là chúng ta hãy đón nhận những lời kêu mời khẩn thiết này! (1)

 

 

   fatima.jpg

2. Một hiện tượng lịch sử

Ở đây cần ghi nhận một biến cố, một hiện tượng quan trọng trong lịch sử nhân loại hiện đại. Ðồng thời người ta cần tự hỏi: Phải chăng đây chỉ là một sự kiện lịch sử thuần tuý nhân loại chứ không do sức mạnh siêu nhiên từ Trời Cao can thiệp? Phải chăng đây không phải là một phép lạ Fatima?

Khi vào năm 1989/90, bảy mươi hai năm sau lời Mẹ Maria tiên báo ởFatima: “Nước Nga sẽ ăn năn trở lại và trái tim Mẹ sẽ thắng” đã hoàn toàn ứng nghiệm. Toàn khối Liên Sô, trong đó có nước Nga, đã trở lại. Ðảng cộng sản vô thần quá khích, chủ trương tiêu diệt tôn giáo bằng các cuộc đàn áp đẫm máu ở Nga và các nước thuộc Liên Sô cũng như ở các nước Ðông Âu đã hoàn toàn cáo chung, đã tự đào thải trước cao trào tự do dân chủ tiến bộ của nhân loại ngày nay, trả lại cho các dân tộc liên hệ những quyền tự do con người, đặc biệt các quyền tự do thuộc lãnh vực tinh thần, như tự do tư tưởng, tự do lương tâm, tự do tôn giáo.

Hiện nay trên thế giới, tuy còn 4 nước duy nhất vẫn áp dụng đường lối chính trị của đảng cộng sản, đó là Trung Hoa Lục Ðịa, Việt Nam, Cuba và Bắc Hàn. Nhưng ngoài Bắc Hàn ra, ba nước còn lại đã bắt đầu canh tân đổi mới, loại bỏ từ từ các hình thức cai trị quá khích và lạc hậu buổi sơ khai.

Ðặc biệt nhất là trường hợp Việt Nam, Nhà Nước cộng sản chẳng những bắt đầu đổi mới đường lối chính trị trong nước mà còn mở cửa giao lưu với tất cả các nước tự do dân chủ trên khắp thế giới, hội nhập vào đời sống văn minh tiến bộ của toàn thể nhân loại. Từ đầu năm 1986 tới nay Nhà Nước đã từ từ loại bỏ chính sách “kinh tế bao cấp” hay “kinh tế kế hoạch” khắt khe bảo thủ, do Nhà Nước qui định và áp dụng chính sách “kinh tế thị trường” tự do, theo đúng phương thức “dân giàu nước mạnh”. Mọi người công dân tương đối được hưởng các quyền tự do cơ bản, nhất là được tự do lựa chọn và sống theo một tôn giáo thích hợp, đúng với lương tâm của mình. Chính trong bộ dân luật của Nhà Nước XHCN Việt Nam công bố năm 1992, khoản 70 đã ghi là mỗi người công dân đều được tự do tin theo một tôn giáo. “Vì tôn giáo chính là nhu cầu tinh thần đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc”, như đã được ghi rõ trong nghị quyết của hội nghị lần VII của Ban Chấp Hành Trung Ương đảng Cộng Sản Việt Nam, khóa IX; hay, vì “tôn giáo là một yếu tố cơ bản của đời sống con người”, như cựu tổng thư ký đảng cộng sản Liên Sô Michail Gorbatschow đã từng nhận định. Giáo Hội Công Giáo luôn khẳng định quan điểm xã hội chân chính của mình là một Nhà Nước văn minh dân chủ tự do không được phép lấy tôn giáo làm quan điểm chính trị, hay nói đúng hơn, không được phép lấy một tôn giáo làm quốc giáo và ép buộc mọi người dân phải chấp nhận tôn giáo đó, hay ngược lại, không được phép chủ trương vô thần, đàn áp tôn giáo, kỳ thị và chia rẽ lương – giáo giữa cộng đồng dân tộc mình. Một Nhà Nước tân tiến phải có đường lối trung lập trong vấn đề tín ngưỡng, tôn trọng và tạo điều kiện cho mọi người dân có thể sống và thực hành lòng tín ngưỡng của họ. Vào ngày 25.01.1998, trong bài giảng tại thánh lễ ở thủ đô Havanna, nước Cuba cộng sản, trước sự hiện diện của chủ tịch nước Fidel Castro và của hàng trăm ngàn người tham dự, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã thẳng thắn tuyên bố: “Một Nhà Nước hiện đại không được phép lấy chủ thuyết vô thần hay tôn giáo để làm quan điểm chính trị. Nhà Nước cần tránh các chủ nghĩa quá khích và tục hóa cực đoan, đồng thời cổ võ một bầu không khí hài hòa trong xã hội và một luật pháp hợp lý, hầu cho mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng tôn giáo có thể tự do sống đạo và hành đạo cách công khai.” (2). Bởi vì “sự hạn chế quyền tự do tôn giáo của các cá nhân cũng như của các cộng đồng chắc hẳn không chỉ là một kinh nghiệm đau thương, nhưng còn chạm đến nhân phẩm con người nói chung, độc lập với tôn giáo. Sự hạn chế quyền tự do tôn giáo và sự xúc phạm đến quyền tự do tôn giáo là đi ngược lại phẩm giá và các quyền lợi khách quan của con người” (3).

Thật vậy, tâm thức tín ngưỡng hay sự thâm tín tôn giáo của con người không những là “yếu tố cơ bản” đã ăn rễ sâu vào tâm khảm con người, hướng dẫn lương tri và cả cuộc sống con người, nhưng còn là chính đời sống tinh thần con người, như dòng huyết quản lưu chảy và nuôi sống cơ thể con người vậy. Niềm tin tôn giáo có tính cách nội tại chứ không mang tính cách ngoại tại như một ý thức hệ, một quan điểm triết học, xã hội hay chính trị. Trong đức tin Kitô giáo, câu hỏi được đặt ra không còn phải là ‘hữu’ hay ‘vô hữu’ như trong lãnh vực triết học, xã hội, chính trị hay văn hóa, nhưng là chấp nhận và tìm hiểu cái ‘hữu’ khách quan, nằm ngoài tầm kiểm soát của trí năng con người. Nói cách khác, mục đích hay đối tượng của thần học Kitô Giáo không phải là luận bàn về có hay không có Thiên Chúa, nhưng là tìm hiểu các chân lý minh nhiên về Thiên Chúa, để sự xác tín về sự hiện hữu của Người thêm vững mạnh hơn. Vì không một ai có thể phủ nhận được sự hiện hữu của Thiên Chúa Tạo Hóa, Ðấng Toàn Năng tuyệt đối, nếu không muốn đi ngược lại lương tri và trí năng của mình. Một người có trí năng lành mạnh và khách quan, bao giờ cũng nhận ra được sự hiện hữu của Thiên Chúa, mặc dù mọi phạm trù luận lý của nhân loại hoàn toàn bất lực không thể giải thích trọn vẹn được bản thể của Người.

Bởi vậy, con người có thể làm áp lực để thay đổi được một nhân sinh quan, một hệ thống chính trị hay một ý thức hệ, nhưng không bao giờ có thể loại bỏ được niềm tin vào Thiên Chúa nơi lòng người. Người ta có thể ngạo mạn phủ nhận hay chối từ Thiên Chúa, nhưng người ta không thể khai tử hay loại bỏ được sự hiện hữu của Thiên Chúa, không thể xóa bỏ được niềm tin của lòng người vào Thiên Chúa. Máu của 130,000 Kitô hữu đã nhuộm đỏ ba miền đất nước Việt Namtrong bao thế kỷ qua là một minh chứng hùng hồn cho sự khẳng định đó. Những Kitô hữu can trường đó thà chết chứ không thể chối bỏ một sự thật khách quan hiển nhiên: Sự hiện hữu và tình yêu vô biên của Thiên Chúa, Ðấng đã dựng nên con người và vũ trụ muôn vật. Do đó, Kinh Thánh đã khẳng định: “Phúc cho dân tộc nào có Thiên Chúa làm Chúa mình và phúc cho quốc gia nào được Người chọn làm gia nghiệp” (Tv 33,12). Họ có được Giáo Lý của Người soi sáng hướng dẫn hầu trước hết là biết “úy Thiên mệnh”, biết kính sợ Thượng Ý của Chúa và tiếp đến là biết tôn trọng nhân vị và phẩm giá của đồng loại với tất cả các quyền tự do căn bản của họ, vì mỗi người đã được dựng nên giống Thiên Chúa và mang trong mình hình ảnh của Người (x. St 1,26-27), và là con Thiên Chúa (x. Mt 5,45; Lc 11,2-4; Ga 20,17b). Ngược lại, khốn thay cho dân tộc nào chối bỏ Thiên Chúa, bắt bớ và sát hại các tín hữu của Người! Họ là những kẻ sống trong đêm tối của vô tri, không có ánh sáng của lương tri ngay chính phát xuất từ Thiên Chúa dẫn đường chỉ lối. Vì thế họ đã xúc phạm đến Ðấng Toàn Năng và chà đạp các quyền tự do cơ bản và chính đáng nhất của đồng loại. Và hậu quả đương nhiên là họ sẽ không thể thoát khỏi án phạt nghiêm minh của Thiên Chúa. Lời công bố long trọng của Ðức Kitô, Quan Án chí công, không chỉ có giá trị cho từng người mà còn cho từng xã hội và cho từng dân tộc: “Ai tin vào Phúc Âm và chịu Phép Rửa, sẽ được cứu rỗi. Còn ai không tin, thì sẽ bị luận phạt” (Mc 16,16).

Bởi vì con người không chỉ được sinh ra, lớn lên, rồi chết là hết như các tạo vật khác, nhưng sau khi từ giã cõi đời này để bước vào cuộc sống vĩnh hằng, tất cả mọi người không phân biệt giai cấp thứ bậc, không phân biệt tín ngưỡng, có tin ngưỡng hay vô tín ngưỡng, đếu phải ra đứng trước tòa Thiên Chúa để trả lẽ về cuộc sống trần thế đã qua của mình, về các phúc tội đã làm đối với nhân loại (x. Mt 25,31 – 46), hầu để được trọng thưởng hay bị luận phạt muôn kiếp, vì trước mặt Thượng Ðế mọi người đều bình đẳng, đúng như lời đức Khổng Tử dạy: “Hoàng Thiên vô thân, duy đức thị thụ: Thượng Ðế không thân riêng ai, chỉ kẻ có đức là Trời giúp”, hay: “Duy Thiên vô thân, khắc kính duy thân: Trời không thân riêng ai, chỉ thân với người hay kính” (Kinh Thư). Vì thế, “tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân, nhất thi giai dĩ tu thân vi bản: từ Vua cho đến người dân, ai ai cũng phải lấy sự sửa mình làm gốc” (Ðại Học). Nhất là sự minh xét của Thiên Chúa không hề bị ảnh hưởng bởi sự đồng tình hay phản đối của người đời. Những gì người đời đề cao có thể trước mặt Thiên Chúa lại không có giá trị, trái lại những gì con người kết án lại có thể là điều công chính trước mặt Thiên Chúa. Bởi lẽ “con người chỉ đoán xét theo những điều họ thấy trước mắt, còn Thiên Chúa lại thấu suốt lòng dạ con người” (1Sam 16,7b) vì “lòng mỗi người, chính Chúa dựng nên và những việc họ làm Người đều thông suốt cả” (Tv 33,15). Con người chỉ có thể lừa gạt được đồng loại, còn trước mặt Thiên Chúa mọi hành vi và tư tưởng tốt xấu của mỗi người đều được vạch trần và được phân xét một cách công minh.

Ðàng khác, nếu con người có tâm thức tín ngưỡng và tin theo một tôn giáo để biết “ăn ngay ở lành”, xét theo phương diện tinh thần và luân lý là một điều tốt, nhưng chưa đủ. Con người còn phải biết tìm hiểu và tin đúng “Chánh Ðạo” nữa. Nói cách khác, con người không chỉ lo sống đức hạnh, lo ăn ngay ở lành, nhưng trước hết còn phải biết tôn thờ và cảm tạ Thiên Chúa, Ðấng Tối Cao duy nhất đã dựng nên mình và cả vũ trụ cùng với muôn vật, hữu hình và vô hình. Hầu tránh được cảnh tượng thương tâm như người ta thường nói là “mồ cha không khóc, đi khóc tổ mối”, Ðấng Tạo Hóa, Chúa Tể càn khôn thì không tôn thờ, nhưng lại chạy theo cúng bái thờ lạy các thần nhân là các tạo vật do chính bàn tay Chúa dựng nên. Trong khi đó, Ðạo Công Giáo, một tôn giáo đã được chính Ðức Kitô, Thiên Chúa Nhập Thể, sáng lập dựa trên nền tảng Phúc Âm Tình Thương của Người, dạy cho con người biết “sự thiên và ái nhân”, biết thờ kính Thiên Chúa và yêu mến tha nhân như chính mình. Hơn thế nữa, Ðạo Công Giáo không những dạy cho con người nhận biết và tôn thờ Thiên Chúa, Ðấng Tạo Hóa toàn năng, và là nguồn mọi chân thiện mỹ tuyệt đối, nhưng còn chỉ cho con người biết Người là Cha Chung Nhân Từ của toàn thể nhân loại và tất cả mọi người là anh em với nhau, không phân biệt màu da, chủng tộc, tín ngưỡng, vô thần hay hữu thần. Vì thế, một người công giáo thâm tín đích thực luôn dành chổ đứng cho hết mọi người trong thẩm cung tình yêu của mình, chứ không hề coi bất cứ ai là kẻ thù “bất cộng đái thiên” hoặc loại trừ bất cứ ai. Vâng, Thiên Chúa là tình yêu nên các con cái Chúa cũng phải sống trong tình yêu và đem san sẻ tình yêu đó cho hết mọi anh em đồng loại của mình. “Các con hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 15,12), lời nhắn nhủ đầy tâm huyết của Ðức Kitô vẫn luôn ghi đậm mãi trong tâm thức của mỗi kitô hữu.

Nói tóm lại, qua Sứ điệp của Ðức Maria và các phép lạ Fatima, Thiên Chúa muốn nói cho nhân loại biết rằng Người vẫn luôn hiện diện và đồng hành với họ, nhất là Người hằng yêu thương họ và muốn chỉ cho họ con đường dẫn tới sự sống chân thật.

– – – – – – – – – – – –

Ghi Chú:

(1) Die Wunder von Fatima, của tác giả Werner Forster.

(2) Ðức Gioan Phaolô II, Lương Tâm Nhân Loại, bản dịch của Lm. Nguyễn Hữu Thy, 2005, trang 116.

(3) Lương Tam Nhân Loại, trang 54.

 

( Trích trong: Lm Nguyễn Hữu Thy, Ðức Maria trong Kinh Nguyện Giáo Hội, Trier 2006, trang 219-238)


LM Nguyễn Hữu Thy
13.05.2007